|
Link phỏng vần Linh mục Nguyễn Văn Lý và Phan Văn Lợi trước khi LM Nguyễn Văn Lý bị
Công An CSVN bắt ba tháng.
Mạn Bàn Về Nước Tàu Phù
Sự liên hệ kinh tế tài chánh và mậu dịch song phương giữa 2 xứ Trung Cộng và Mỹ xét ra khá chặc chẽ, người ta suy đoán có thể các nhà tư bản nắm giữ nước Mỹ hình như toa rập lôi kéo Trung Cộng vào bẫy sập.

Sau biến cố 911 nước Mỹ viện cớ cần tiêu diệt họa khủng bố nên đã đưa quân sang hai xứ A Phú Hãn và Iraq, những cuộc chiến này ngốn những số tiền tiêu hao kếch sù của Mỹ quốc, cũng do nợ nần từ đó. Theo tin thí chủ viết bày này lượm data trên in-tẹc-net, tin từ tạp chí Spiegel (Đức quốc), Trung Cộng hiện đang nắm giữ hơn 1.000 tỷ USD trái phiếu chính phủ Mỹ và qua đó y thị ác ôn Trung Cộng chính là nước chủ nợ lớn nhất của Mỹ quốc. Tin đau hơn hoạn. Chính xác hơn, Trung Cộng thủ đắc số nợ của Mỹ khổng lồ 1.132 tỷ USD như hiện nay. Và số dự trữ ngoại tệ của Trung Cộng hiện đã leo lên tới 3,2 nghìn tỷ USD và 70% trong số đó có liên quan đến đồng đô la Mỹ. Nếu đồng mỹ kim (USD) bị mất giá nghiêm trọng do chính quyền đương kiêm Bảy Obama không giải quyết được vấn đề nợ nần, các tay tư bản đỏ từ Trung Cộng sẽ hú vía vì chịu những tổn thất nặng nề. Những con số khác cần lưu ý giữa GDP của Mỹ và Trung Cộng chênh lệch theo thời gian, khi mà khoảng cách giữa GDP hai nước Trung Cộng và đã bị thu hẹp đáng kể. Năm 2003, GDP của Mỹ gấp 8 lần Trung Quốc, nhưng đến nay (2011) chỉ còn có 3 lần. GDP của Mỹ vào năm Mão vừa qua là hơn US$15 trillion, của Tàu Phù là US$5.87 trillion, của Nhật Bản là US$5.47 trillion, và của Đức Quốc là US$3.08 trillion.
Nhìn trên những yếu tố tổng quan khi Trung Cộng vấp phải những nguy cơ xáo trộn xã hội do nội bộ, dù là do sự bất mãn của người dân, hay do nạn xứ quân do nguồn gốc phân hóa chủng tộc, giới lãnh đạo Trung Cộng đem lòng ái quốc, tinh thần quốc gia bành trướng bờ cõi như niềm hãnh diện dân tộc hầu xoa diệu người dân, Trung Cộng giương oai thị uy các lân bang, điển hình qua mộng bành trướng sức mạnh hải quân qua "cục sắt biết bơi" có được đầu tiên để nhát ma thiên hạ, "cục sắt biết bơi" mang tên Shi Lang, là tên của vị hải quân đô đốc thời nhà Minh - Thanh, người đã từng chỉ huy đánh chiếm đảo Đài Loan năm 1681. "cục sắt biết bơi" Shi Lang là hóa thân từ chiếc "tàu sân bay" Varyag của Ukraina được "nằm ụ" hay "trùm chăn" khá lâu vì nó được đóng cho hải quân Xô viết song quá trình này bị gián đoạn do Liên Xô sụp đổ và thiếu kinh phí để hoàn tất. Diễn nôm Shi Lang nghĩa là "cục sắt biết bơi"Thị Lang.
Sự góp mặt của Thị Lang tăng thêm phần hống hách cho Trung Cộng khi dọa nạt thế giới vì những yêu sách vô lý về đường lưỡi bò kiểm soát hải lộ Biển Đông. Vì thế cho nên anh Bảy Obama liên kết vòng đai an ninh cùng Úc, Nhật, Nam Hàn, Ấn, và Phi sẵn sàng đương đầu cho những thái độ ngang ngược, hỗn xược của Trung Cộng. Mong sao chiến tranh có bùng nổ, nước Tàu cần được phanh thây, tế phân ra thành những nước nhỏ do quốc tế chế ngự.
Những nguy cơ bành trướng do giới cầm quyền Trung Cộng chủ trương cần được quốc tế trừng trị đích đáng. Giới lãnh đạo CS Tàu Phù càng cuồng nộ, càng ngông nghênh coi trời bằng vung thì nước Tàu sẽ lãnh hậu quả "hội đồng" khổ sở. Nguyên tắc đạo lý trên đời một khi mẹ ăn mặn thì con khát nước. Nên nhớ mẹ Mỹ, mẹ Việt hay mẹ Mỹ gốc Việt chả khi nào ăn mặn cả, sấm giảng bảo hai xứ này cuối cùng okay, nhưng nước Tàu tan rã và phường CSVN sẽ bị đào thải thôi.
Trên thật tế món nợ bọn Tàu Phù của Mỹ 1.132 tỷ USD hay nhiều hơn nữa, làm sao bây giờ, chiến tranh xù nợ, Marshall plan lấy tiền Tàu Phù nuôi Tàu Phù sao này vì hệ quả "mẹ ăn mặn thì con khát nước".
Mời bà con phe ta đọc các bài viết sau liên quan về Biển Đông liên quan đế sự hống hách bá quyền của Trung Cộng, một xứ sở của phiền toái, của nguy hiểm cho an ninh toàn cầu, cần được chẻ nhỏ, tế phân vùng địa lý của nước Tàu, hầu tránh hiểm họa Đại Hán.
Cám ơn anh Ba Da Cam Mai Thanh Truyết cho link sau:
Vấn đề Trung Quốc của Thế giới và Việt Nam
VHLA
Trung Cộng và Mỹ Sẽ Phát Sinh Xung Đột Nghiêm Trọng?
Thứ hai 16/04/2012 06:00
Các lãnh đạo cấp cao Trung Cộng ngày càng xem mối quan hệ Trung-Mỹ như “một trò chơi có tổng bằng không”.
Ông Kenneth Lieberthal, Giám đốc phụ trách nghiên cứu Trung Cộng của Trung tâm John L. Thornton tại Brookings, cựu thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia dưới thời Tổng thống Bill Clinton cho biết, khi thảo luận về mối quan hệ với Mỹ một cách trực tiếp hay gián tiếp, thì các quan chức Trung Cộng về cơ bản đều thông qua một “tư duy số không”.
 |
| Khó có giải pháp trong quan hệ Trung-Mỹ? |
Một chuyên gia phân tích những ảnh hưởng của Trung Cộng cho biết, các lãnh đạo cấp cao Trung Cộng ngày càng xem mối quan hệ Trung-Mỹ như “một trò chơi có tổng bằng không”.
Tức là, nếu kinh tế và chính trị Mỹ tiếp tục trượt dốc thì Trung Cộng lại càng ở thế thượng phong trong một thời gian dài.
Mới đây, Viện Brookings tại Washington và Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế Đại học Bắc Kinh đưa ra một báo cáo mang tên “Đối phó với sự nghi ngờ chiến lược lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Cộng”.
Theo báo cáo này, nhà phân tích chiến lược, chuyên gia cố vấn của Bộ Ngoại giao Trung Cộng, ông Vương Tập Ân cho rằng, Trung Cộng coi Mỹ là một quốc gia đang trong quá trình suy giảm trầm trọng.
Nhưng đồng thời nhấn mạnh, Washington đã cố gắng để trở lại, thậm chí đang cố làm suy yếu sự trỗi dậy về quân sự và kinh tế Trung Cộng, với mục đích cuối cùng là ngăn cẳn Trung Cộng đã trở thành quốc gia mạnh nhất trên thế giới.
Tuy nhiên, cả hai chuyên gia Kenneth Lieberthal và Vương Tập Ân đều nhận định rằng, mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Cộng đang ngày càng này sinh những mối nghi ngời lẫn nhau.
Nếu không có những bước tiến tích cực trong thời gian tới, quan hệ hai nước có thể sẽ biến thành một cuộc đối đầu quân sự trong tương lai.
Ông Vương đã đưa ra một giải pháp trong mối quan hệ này tới các nhà lãnh đạo Trung Cộng là, Mỹ không còn là một cường quốc đáng sợ và đáng tin cậy như trước nữa.
Ngược lại, với việc phát triển mạnh trong lĩnh vực quân sự và kinh tế, Trung Cộng ngày càng tự tin hơn trong vai trò là một nước lớn.
 |
| Trung, Mỹ sẽ phát sinh xung đột? |
Đặc biệt là kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh ở Iraq, khoảng cách giữa hai nước đã bị thu hẹp đáng kể. Năm 2003, GDP của Mỹ gấp 8 lần Trung Quốc, nhưng đến nay chỉ còn có 3 lần.
Ông Vương nhấn mạnh, thời kỳ của Trung Cộng đã đến, giờ đây, Mỹ đã thuộc về “một mặt trái của lịch sử”.
Các nhà lãnh đạo Trung Cộng đang ngày càng tin rằng về lâu dài, Trung Cộng sẽ giành chiến thắng trong cuộc chạy đua với Mỹ. Ở một mức độ nhất định, chuyên gia Lieberthal của Mỹ cũng xác nhận điều này.
Cách đây không lâu, tại một hộ thảo đươc tổ chức tại Đại học Thanh Hoa, Trung Cộng, ông Lieberthal cho biết, hai bên ngày càng nhìn nhận theo một khung hướng đó là, quan hệ hai nước có thể trở thành một cuộc đối đầu quân sự sau 15 năm nữa.
Điều này có nghĩa rằng hai nước sẽ tăng đáng kể chi tiêu quân sự để tiến hành ngăn chặn lẫn nhau.
“Trường hợp xấu nhất là hai bên có thể gây ra xung đột vũ trang thực sự, song cuộc đối đầu đó sẽ không mang lại nhiều kết quả.
Đây chỉ là hệ quả của việc hai bên không tiếp tục kiềm chế và muốn loại bỏ lẫn nhau”. Ông Lieberthal nhấn mạnh.
(theo site Một Góc Nhìn)
Mỹ lập kế hoạch đập tan mưu đồ của Trung Quốc trên biển Đông
Trong bối cảnh căng thẳng trên biển Đông ngày một leo thang và những động thái mới gần đây của Trung Quốc chứng tỏ họ đang mưu đồ thống trị các vùng "biển gần" - Hoàng Hải, biển Đông và Hoa Đông - Mỹ cùng các đồng minh, các đối tác an ninh trong khu vực cũng "rục rịch" chuẩn bị kế hoạch ứng phó.
Những ý đồ của Trung Quốc trên biển Đông
Ngay sau khi chính quyền Obama công bố chính sách “Hướng đông” hồi cuối năm ngoái với mục đích chính là bảo vệ an ninh hàng hải tại eo biển Malacca và biển Đông, căng thẳng tại khu vực này bắt đầu leo thang, chủ yếu bởi hàng loạt động thái khiêu khích, gây hấn của Trung Quốc.
Bắc Kinh có ý định thống trị các vùng “biển gần" – biển Hoàng Hải, biển Đông và biển Hoa Đông – biến chúng thành vùng đệm bảo vệ an ninh đại lục và cho phép Trung Quốc khai thác nguồn thủy sản trị giá và nguồn tài nguyên dồi dào dưới đáy biển bao gồm khí đốt, dầu mỏ và khoáng sản.
Ngoài ra, Trung Quốc có ý định hạn chế các hoạt động quân sự nước ngoài, đặc biệt là Mỹ, tại khu vực Biển Đông. Do đó, Trung Quốc tập trung tuyên bố chủ quyền mạnh mẽ trên ba biển này bất chấp xâm phạm lợi ích các quốc gia láng giềng.
 |
| Trung Quốc mạnh mẽ khẳng định chủ quyền và quyền tài phán tại các vùng “biển gần". Ảnh minh họa: New Prophecy. |
Trung Quốc tuyên bố gần 3,5 triệu km2 biển Đông thuộc quyền kiểm soát của họ, tuyên bố chủ quyền đối với các hòn đảo và các vùng lãnh hải nằm ngoài khơi xa, cách biệt với đại lục, nằm ngoài khu vực đặc khu kinh tế của họ.
Đồng thời, Bắc Kinh mạnh mẽ khẳng định quyền tài phán – một hình thức kiểm soát khác đối vùng lãnh hải rộng lớn trên biển Đông.
“Các vùng biển tranh chấp đang dần vuột khỏi tầm kiểm soát của chúng tôi vì không có ý định sử dụng sức mạnh quân sự để đảm bảo ưu sách chúng tôi. Vẽ một bản đồ chính xác hơn, Trung Quốc có thể tăng cường các tuyên bố chủ quyền, quyền tài phán trên biển Đông và các hoạt động khác theo sau chẳng hạn, khai thác các nguồn tài nguyên gần đảo Nansha”, ông Zhang Yunling, Giám đốc Viện nghiên cứu quốc tế trực thuộc Học viện Khoa học Xã hội tuyên bố trên Global Times.
Song song với tuyên bố trên, các công ty quốc doanh của Trung Quốc tích cực thăm dò tìm kiếm dầu mỏ và khí đốt trong khu vực.
Tuy nhiên, Bắc Kinh lại công khai thách thức các công ty dầu mỏ nước ngoài đã và đang có ý định đầu tư vào ngành công nghiệp năng lượng ngoài khơi, bất chấp tính hợp pháp của các thỏa thuận hợp tác giữa họ.
Chưa dừng lại ở đó, Trung Quốc không ngại bắt và giam giữ ngư dân láng giềng trái phép nếu họ lỡ lạc bước đến gần các khu vực lãnh hải tranh chấp trên biển Đông.
Đầu tháng giêng năm nay, Ngoại trưởng Philippines Alberto del Rosario cho biết chính phủ nước này đã triệu tập và bày tỏ "quan ngại sâu sắc" với Đại sứ Trung Quốc tại Manila sau khi ba tàu của Bắc Kinh, trong đó có một tàu hải quân, bị phát hiện ở gần bãi cát ngầm Sabina trên Biển Đông vào các ngày 11-12/12/2011. Vụ xâm phạm này là động thái mới nhất đổ thêm dầu vào lửa cho căng thẳng giữa Manila – Bắc Kinh liên quan đến các tranh chấp lãnh hải trên biển Đông
Chỉ tình riêng tháng ba vừa qua, đã xảy ra hàng loạt các sự cố liên quan đế tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực. Chẳng vụ tranh cãi nảy lửa giữa Bắc Kinh và Seoul liên quan đến bãi đá ngầm Ieodo.
Bắc Kinh cũng đụng độ với Manlila liên quan đến kế hoạch xây cầu cảng nhằm "phát triển du lịch" ở đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa...
Giữa bối cảnh trên, nhiều chuyên gia phân tích cho rằng Trung Quốc rất có thể "đánh úp" biển Đông.
 |
| Trung Quốc rất có thể "đánh úp" biển Đông? Ảnh minh họa: People Daily. |
Steve Tsang, Giám đốc Viện chính sách Trung Quốc thuộc ĐH Nottingham, tin rằng Trung Quốc có thể khởi động một cuộc chiến bất thình lình và quy mô nhỏ nhằm vào Philippines.
“Khởi động cuộc chiến chống lại Việt Nam chỉ làm an ninh ở Đông Nam Á và Đông Á bất ổn hơn. Trung Quốc không dễ chiến thắng Việt Nam. Dù vậy, họ rất có thể phát động một cuộc chiến như thế”, ông Steve Tsang nhấn mạnh.
Trong khi đó, James Holmes, Phó Giáo sư nghiên cứu Chiến lược của Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ nhận định Bắc Kinh có thể sẽ thành công nếu tấn công Philippines.
“Bắc Kinh sẽ khởi động bất cứ cuộc chiến tranh quy mô nhỏ nào khi có thể. Sức mạnh quân sự vượt trội của họ dựa trên các loạt vũ khí như tên lửa đạn đạo chống hạm sẽ mang lại ưu thế cho Trung Quốc trong suốt cuộc chiến”, ông Holmes giải thích.
Đáng chú ý là, hàng loạt các bài bình luận trên các phương tiện truyền thông chính thống của Trung Quốc, đáng chú ý nhất là tờGlobal Times – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc - khái niệm về “các cuộc chiến quy mô nhỏ” gia tăng kể tăng kể từ năm 2011.
Đầu tháng ba vừa qua, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố quân đội Trung Quốc cần chuẩn bị tốt hơn cho các "cuộc chiến tranh cục bộ".
Như vậy, rất có thể trong tương lai, biển Đông sẽ lại dậy sóng bởi một cuộc tấn công bất thình lình và hạn chế của Trung Quốc.
Mỹ và đồng minh sẵn sàng ứng chiến
Trước các động thái mới của Trung Quốc, Mỹ cùng các đồng minh và các đối tác an ninh của Mỹ tại Châu Á - Thái Bình Dương rục rịch lên kế hoạch chống lại việc sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực của Trung Quốc nhằm giành lấy các mục tiêu mở rộng của họ trong khu vực, đặc biệt là ở biển Đông, trung tâm hàng hải của Đông Nam Á.
Mỹ bắt đầu tổ chức lại lực lượng ở Thái Bình Dương tập trung vào mục tiêu duy trì sự ổn định trong khu vực Đông Nam Á đồng thời bảo vệ các tàu thuyền và các tuyến đường vận tải năng lượng xuyên qua Ấn Độ Dương tới các nền kinh tế Đông Á – các cầu thủ quan trọng quyết định sự tăng trưởng toàn cầu.
Thực hiện cam kết đã ký hồi cuối năm ngoái với Australia, khoảng 200 thủy quân lục chiến Mỹ vừa đặt chân đến Darwin, miền bắc nước này hôm 3/4. Đây sẽ là tiền thân cho một lực lượng hùng hậu hơn với 2.500 thủy quân lục chiến được triển khai dần từ nay cho đến năm 2015.
 |
| Quân đội Mỹ đặt chân đến Darwin, miền Bắc Australia đêm 3/4. Ảnh minh họa: AFP. |
Việc thủy quân lục chiến Mỹ theo kế hoạch được huy động luân phiên tại các căn cứ quân sự ở miền Bắc Australia, là sự khẳng định mạnh mẽ cho tuyên bố của Tổng thống Obama hồi cuối năm ngoài rằng Mỹ kiên quyết đóng vai trò rộng lớn hơn và lâu dài hơn trong việc định hình khu vực (châu Á-Thái Bình Dương) trong tương lai, bất chấp ngân sách quốc phòng eo hẹp do thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng.
Tại Hội nghị thượng đỉnh an ninh Hạt nhân tại Hàn Quốc cuối tháng ba vừa qua, Tổng thống Mỹ Obama tái khẳng định việc cắt giảm chi tiêu quốc phòng của Mỹ không ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng sự hiện diện của các lực lượng Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương. “Các lực lượng của Mỹ sẽ luôn ở trong tình trạng sẵn sàng ứng phó nhanh nhất, hiệu quả đầy đủ nhất với các sự cố và các mối đe dọa trong khu vực", Tổng thống Obama khẳng định.
Ngoài việc cho phép sự hiện diện hải quân Mỹ trên lãnh thổ của mình, Australia cũng cung cấp cho Mỹ quyền ra vào thoải mái vào các căn cứ không quân cũng ở miền Bắc nước này và căn cứ hải quân chính của họ tại Ấn Độ Dương gần Perth.
Ngoài ra, nếu hải quân của Australia được quyền ra vào tự do các vùng lãnh hải quốc tế trong khu vực, đó sẽ là một đảm bảo cho các hoạt động thương mại của nước này, bao gồm cả hoạt động xuyên qua biển Đông, trở thành nguồn cung cấp dồi dào cho các đối tác an ninh ở châu Á.
Trong khi đó, Singapore tỏ ra sẵn sàng cung cấp các căn cứ cho các tàu chiến tuần duyên Littoral Combat Ship - một loại chiến hạm mới, nhỏ, chuyên dùng cho các chiến dịch sát bờ biển.
Sau cuộc hội đàm giữa hai Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Singapore tại Washington hôm 4/4, Lầu Năm Góc thông báo hai bên đều nhấn mạnh “một sự hiện diện hùng hậu của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ củng cố sự ổn định và an ninh trong khu vực”.
Việt Nam – một trong những quốc gia liên quan đến các tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc trên biển Đông cũng đang nỗ lực xây dựng lực lượng nhằm bảo vệ các lợi ích chính đáng của họ. Đồng thời, Malaysia cũng đang tiến hành các hành động tương tự.
Bộ đôi Nhật Bản và Mỹ cũng dự kiến hoàn thành thỏa thuận vào cuối tháng này để chuyển 4,700 binh sĩ Mỹ đồn trú tại các căn cứ ở đảo Okinawa đến đảo Guam, căn cứ quân sự trọng yếu nhất của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương.
Tờ Yomiuri Shimbun của Nhật cho hay kế hoạch phân bổ lực lượng mới của Mỹ sẽ tách các đơn vị Thủy quân Lục Chiến, Lục quân, không quân và các đơn vị hậu cần vào đóng quân tại một hệ thống các căn cứ hình cánh cung dọc theo sườn bờ biển phía Đông của Trung Quốc, trong đó, Thủy quân Lục chiến là lực lượng mũi nhọn của Mỹ, được triển khai tại khu vực châu Á -Thái Bình Dương.
Đồng thời, Yomiuri bình luận rằng kế hoạch phân bổ quân trên khiến các cuộc tấn công quân sự từ bên ngoài vào các căn cứ của Mỹ tại Thái Bình Dương trở nên khó khăn hơn. Đồng thời nó giúp Mỹ ứng phó hiệu quả hơn với các cuộc tấn công như trên. Không những vậy, nó cũng giúp chống lại sự bành trướng mạnh quân sự của Trung Quốc và giúp các nỗ lực cứu trợ nhân đạo trong các thảm họa trong tương lai trở nên thuận tiện hơn và nhanh chóng hơn.
Trung Quốc yêu cầu Nga rút khỏi biển Đông
Sau khi “cảnh báo” Ấn Độ về việc thăm dò dầu khí ở biển Đông, Trung Quốc hôm qua lại có động thái tương tự với Nga.
Khi được hỏi về việc các công ty Việt Nam và Nga ký hợp đồng thăm dò dầu khí ở biển Đông, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân khẳng định: các công ty không liên quan tới tranh chấp khu vực hãy tránh xa nơi này.
Ông tuyên bố: “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi ở biển Đông. Chúng tôi hy vọng tranh chấp có thể giải quyết thông qua đối thoại giữa các nước liên quan. Chúng tôi hy vọng các bên liên quan có thể thỏa hiệp và tránh việc để nước ngoài can thiệp vào tranh chấp”.
Ngoài Nga, Trung Quốc cũng khẳng định các công ty không phải của các quốc gia ở biển Đông tránh liên quan tới tranh chấp trong khu vực. Về tranh cãi tại Hoàng Sa và các vùng nước liền kề, ông Lưu khẳng định Trung Quốc cam kết giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại trực tiếp và tham vấn với các nước liên quan trên cơ sở tôn trọng lịch sử và luật pháp quốc tế.
Đây không phải là những động thái mới của Trung Quốc. Trước đó, họ cũng hành động tương tự khi Ấn Độ muốn thăm dò dầu khí ở biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Trung Quốc lo ngại quân đội Nhật phát triển mạnh mẽ
Tờ Huantsyu shibao của Trung Quốc đưa tin nước này đang có thái độ bất an về việc chính phủ Nhật Bản đang che giấu mục tiêu phát triển lực lượng vũ trang của mình.
Tờ báo này đưa tin rằng Trung Quốc hiện không nắm được nhiệm vụ của hai tàu sân bay mà Nhật Bản mới đây công bố kế hoạch xây dựng.
Ngoài ra Bắc Kinh cũng không nhận được nhiều thông tin về mục đích hiện đại hóa tên lửa và lực lượng bộ binh Nhật Bản.
Trong khi đó, tờ báo này dẫn lời của Giám đốc Viện nghiên cứu khoa học các vấn đề Quốc tế, ông Go Syangana: “Ở mức độ nào đó Nhật Bản đang lo lắng về vai trò ngày càng lớn của Trung Quốc ở châu Á. Nhật Bản khó có khả năng vượt mặt Trung Quốc về kinh tế. Do đó, Nhật Bản đang nỗ lực tạo dựng lợi thế trong lĩnh vực công nghiệp so với Trung Quốc. Nhật Bản đang bị yếu thế hơn Trung Quốc trong việc phát triển kỹ thuật quân sự và củng cố quốc phòng”.
Ông Go còn cho biết, ở một phương diện khác Nhật Bản đang lên kế hoạch phát triển kinh tế để phục vụ mục tiêu sản xuất vũ khí.
Trung Quốc buộc Nhật tăng cường vũ trang?
Vụ phóng tên lửa của Triều Tiên cho thấy sự bất lực của Mỹ lẫn Trung Quốc. Do đó, Nhật Bản càng muốn tăng cường vũ trang tự vệ.
Nhật tái vũ trang vì Triều Tiên?
Nhật Bản cùng Mỹ và Hàn Quốc là ba quốc gia đầu tiên và cũng là những nước phản đối mạnh mẽ và gay gắt nhất kế hoạch phóng vệ tinh của Triều Tiên ngay từ khi nó được công bố. Không chỉ cương quyết yêu cầu Triều Tiên hủy bỏ kế hoạch phóng vệ tinh, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Naoki Tanaka còn tuyên bố bắn hạ tên lửa Triều Tiên nếu cần thiết.
Và ngay sau tuyên bố này, Nhật bắt đầu triển khai tàu khu trục “Kirishima” được trang bị hệ thống đánh chặn Aegis và các tên lửa đánh chặn SM-3 tới vùng biển gần đảo Okinawa, chuẩn bị đánh chặn tên lửa Triều Tiên. Ngoài ra, Tokyo còn lắp đặt các tên lửa đánh chặn tối tân PAC-3 trên đảo Sakishima, Tokyo... để đối phó “vệ tinh” của Bình Nhưỡng.
 |
| Nhật triển khai tên lửa đánh chặn tối tân. Ảnh minh họa:Asahi Shimbun. |
Những động thái cho thấy sự vững mạnh của quân đội Nhật Bản. Nhiều chuyên gia cho rằng, cách phòng thủ của Tokyo đối với Bình Nhưỡng là sự thay đổi trong chính sách đối ngoại và quốc phòng của nước này kể từ khi chiến tranh Lạnh kết thúc. Đặc biệt, nó cũng là dấu hiệu chứng tỏ Học thuyết Yoshida của cựu Thủ tướng Nhật Shigeru Yoshida ngày càng giảm ảnh hưởng.
Học thuyết Yoshida ra đời trong bối cảnh Nhật bị tàn phá nặng nề do thua trận trong chiến tranh thế giới thứ II; với nội dung là Nhật Bản dựa hoàn toàn vào Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ để phòng thủ, nhằm dốc toàn lực phát triển kinh tế.
Nhờ Học thuyết Yoshida, Tokyo nhanh chóng nối lại quan hệ với các nạn nhân của đế quốc Nhật và tạo nên “sự thần kỳ Nhật Bản” thời chiến tranh Lạnh. Và nhờ sức mạnh kinh tế, uy tín và vị thế của Nhật Bản trong cộng đồng quốc tế tăng lên.
"Tự lực cánh sinh"
Trong những năm gần đây, Tokyo tích cực triển khai lực lượng ở nước ngoài, tự nới lỏng lệnh cấm xuất khẩu vũ khí và phát triển lực lượng vũ trang.
Các động thái này đi kèm tham vọng thay đổi Hiến pháp khiến nhiều người lo ngại “đất nước mặt trời mọc” đang ấp ủ ý định "tái vũ trang".
 |
| Quân đội Nhật chủ yếu làm nhiệm vụ phòng thủ. Ảnh minh họa: Reuters. |
Một trong những lý do chính giải thích cho động thái trên của Nhật Bản là khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên vẫn đang tiếp diễn và chưa biết đến bao giờ mới kết thúc. Vụ phóng tên lửa mới đây của Bình Nhưỡng cho thấy tính cách thất thường của nước này luôn đặt ra nhiều nguy cơ đến an ninh của Nhật.
Đồng thời, cuộc cạnh tranh quyết liệt nhằm giành, giữ lợi ích tại nhiều vùng biển càng thúc đẩy Nhật thay đổi chính sách quốc phòng. Trong tương lai, khả năng Nhật Bản "bỏ rơi" Học thuyết Yoshida còn có thể được giải thích như là phản ứng tự nhiên của Tokyo trước thái độ ngày càng quyết đoán hơn của Trung Quốc trên phương diện quân sự cũng như chính trị tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các mối đe dọa đối với an ninh của nước Nhật luôn tồn tại và trên thực tế, rất khó để xác định sự khác biệt giữa các mối đe dọa mới và các mối đe dọa cũ thời chiến tranh Lạnh mà Bình Nhưỡng và Bắc Kinh gây ra cho nước này.
Song sự khác biệt lớn nhất giữa thời đại của Thủ tướng Shigeru Yoshida và Yoshihiko Noda, Thủ tướng hiện nay của Nhật Bản chính là sự thay đổi trạng thái đối kháng trong khu vực thời hậu chiến tranh Lạnh.
Xuất phát từ sự nổi lên của Trung Quốc, nhiều thế lực trong nước hiện nay bắt đầu ủng hộ Nhật Bản định hướng lại chính sách, trở lại là một đất nước có quân đội bình thường như bao quốc gia khác. Điều này càng được thúc đẩy bởi sự sự suy giảm rõ rệt của quyền lực Mỹ.
Trước đó, các chính trị gia cánh tả và giới kinh tế Nhật Bản muốn xây dựng một nhà nước phi quân sự và theo đuổi chính sách đối ngoại trung lập; những người phái hữu khuynh thì chủ trương vun vén cho quan hệ gần gũi, thân thiết với Mỹ. Song, chung quy lại tất cả mọi người đều muốn tái thiết đất nước. Cuối cùng, các phe phái chính trị của Nhật Bản đạt được thỏa hiệp tối ưu nhất đó là theo đuổi lập trường chống chiến tranh đồng thời phụ thuộc vào sự bảo trợ của Mỹ về an ninh. Kể từ khi ký Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật vào năm 1952, Tokyo bắt đầu chơi trò chơi cân bằng tinh tế.
Tuy nhiên, những sự kiện diễn ra trong thời gian gần đây, chẳng hạn, việc Mỹ đứng ngoài cuộc chiến Libya, trao trọng trách lại cho NATO, sự sốt sắng của chính quyền Obama để tháo lui khỏi Iraq và Afghanistan và không thể không kể đến sự bất lực của Washington trong việc giải quyết khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, giúp Tokyo nhận rõ các khả năng và vị thế của Mỹ hiện nay, rõ ràng đã suy giảm đáng kể.
Theo đó, cam kết can thiệp quân sự vào bán đảo Triều Tiên trong trường hợp có biến nhằm bảo đảm an ninh cho các đồng mình trong khu vực của Mỹ, trong đó, có Nhật Bản, dường như không còn đáng tin cậy. Đơn giản, Washington không còn khả năng tài chính đủ để hỗ trợ các hoạt động của các lực lượng Mỹ tại Đông Á. Mỹ có vẻ như đang rơi tự do từ vị thế là một siêu cường hùng mạnh số 1 thế giới thành một quốc gia yếu ớt, dễ bị tổn thương, do đó, không còn là ô an ninh đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Nhật Bản.
Thêm vào đó, những người này cho rằng, chính sách đối ngoại phức tạp với Mỹ đang cản trở những lợi ích kinh tế ở bên ngoài của Nhật Bản.
Hiện dù bị Trung Quốc soán ngôi cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới, Nhật Bản vẫn là một nền kinh tế phát triển và năng động. Bất chấp gánh nặng tái thiết đất nước sai khủng hoảng động đất, sóng thần hồi tháng ba năm ngoái, nền kinh tế của đất nước mặt trời mọc bắt đầu phục hồi. Thậm chí, nhiều người dự đoán sau tất cả, thế giới có thể sẽ được chứng kiến “sự thần kỳ Nhật Bản” thêm một lần nữa.
Do đó, trong tương lai, Tokyo có thể tăng ngân sách quốc phòng để chống lại các hành động khiêu khích, gây hấn và bảo đảm an ninh và các lợi ích kinh tế cho đất nước. Và phản ứng gay gắt của họ liên quan đế kế hoạch phóng vệ tinh của Bình Nhưỡng là một dấu hiệu và cũng là một cơ hội để chính quyền Nhật Bản hợp lý hóa khả năng tái vũ trang và thay đổi chính sách quốc phòng.
Tuy nhiên, con đường trở lạ là một quốc gia sở hữu khả năng quân sự vượt trội như trong quá khứ của Nhật Bản sẽ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và sẽ không thể diễn ra trong những thập kỷ tới bởi vẫn có không ít chính trị gia "đất nước mặt trời mọc" theo đuổi chủ nghĩa hợp hiến bảo thủ, muốn dựa vào sự đảm bảo an ninh của Mỹ.
Tàu chiến Mỹ, Philippines làm biển Đông nổi sóng
Trong bối cảnh đối đầu trên biển Đông giữa Trung Quốc - Philippines chưa chấm dứt thì việc Manila tuyên bố tập trận Balikatan “không nhằm khuếch trương lực lượng” không thể khiến Bắc Kinh yên tâm.
Gần 7.000 quân, trong đó có 4.500 quân Mỹ và hơn 2.300 binh sỹ Philippines hôm nay bắt đầu hàng loạt các cuộc tập trận kéo dài trong hai tuần lần đầu tiên trên biển Đông ở khu vực quần đảo Luzon và Palawan.
 |
| Tập trận Balikatan tăng cường quan hệ quân sự Mỹ - Philippines. |
Tín hiệu cho Bắc Kinh?
Cuộc tập trận Balikatan (Vai kề vai) năm nay giữa Philippines và Mỹ thu hút sự chú ý của cả khu vực khi một vài hoạt động diễn tập được tiến hành ngay tại một số khu vực “nhạy cảm trên biển Đông”, nơi tranh chấp chủ quyền giữa một số nước Đông Nam Á và Trung Quốc diễn ra quyết liệt. “Mục đích của chúng tôi không nhằm chống lại bất cứ quốc gia cụ thể nào”, người phát ngôn quân đội Philippines, thiếu tá Emmanuel Garcia cho biết, “mục đích của chúng tôi là nhằm bảo vệ an ninh hàng hải và bảo vệ các lợi ích của Philippines”. Abigail Valte, một người phát ngôn Tổng thống Philippines cũng nhấn mạnh, tập trận Balikatan không phải là hành động biểu dương lực lượng nhằm vào Trung Quốc và không liên quan gì tới vụ đối đầu mới nhất giữa tàu hải giám Trung Quốc và Philippines tại bãi cạn Scarborough/Huangyan hiện vẫn chưa kết thúc.
Balikatan là tập trận chung lớn nhất giữa Bộ tư lệnh Thái Bình Dương của quân đội Mỹ và quân đội Philippines. Theo tuyên bố của Manila, Balikatan nhằm thúc đẩy hòa bình, an ninh khu vực và nâng cao khả năng lập kế hoạch hợp đồng tác chiến, đối phó khủng hoảng giữa quân đội hai nước. Theo chuyên gia an ninh John Blaxland, ĐH quốc phòng Australia, Balikatan còn là tín hiệu gửi tới Trung Quốc trong bối cảnh Tổng thống Philippines ông Aquino trước đó tuyên bố, nước này không hoan nghênh sự hiện diện trở lại của các căn cứ Mỹ nhưng chào đón sự hiện diện nhiều hơn thông qua tập trận như Balikatan. “Thông điệp đi kèm khẳng định rằng Mỹ nghiêm túc về vai trò tại châu Á và sẽ hỗ trợ cho những đối tác cần”, hãng tin AFP dẫn lời ông Blaxland.
Điểm nóng Scarborough/Huangyan
Trong khi đó, đối đầu Trung Quốc - Philippines tại Scarborough/Huangyan dường như vẫn bế tắc bất chấp các động thái ngoại giao. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez hôm qua cho biết, căng thẳng tranh chấp vẫn tiếp diễn khi ngoài một tàu hải giám Trung Quốc quay trở lại khu vực này thì một trực thăng liên tục quần đảo trên tàu bảo vệ bờ biển của Philippines. Bày tỏ lo ngại về các hành động của Trung Quốc, ông Raul Hernandez cho biết, “chúng tôi muốn họ chấm dứt tất cả các hành động xâm phạm và phải tôn trọng chủ quyền” dù vẫn xem Bắc Kinh là “láng giềng và bạn bè gần gũi cũng như là đối tác ổn định”.
Dự kiến hôm nay hoặc ngày mai, Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines sẽ đưa tàu BRP EDSA dài khoảng 56 m thay thế BRP Pampanga hiện đang thường trực tại Scarborough/Huangyan. Trước đó, hai bên đều có các động thái được cho là nhằm hạ nhiệt căng thẳng khi Manila rút tàu chiến lớn nhất còn Bắc Kinh đưa 8 tàu cá rời khỏi khu vực tranh chấp này.
Trước khi lên đường thăm Mỹ hôm 15/4, Ngoại trưởng Philippines ông Rosario bày tỏ “đáng tiếc” khi các tàu cá Trung Quốc được phép rời đi mà vẫn mang theo các hải sản quý hiếm vừa đánh bắt như cá mập sống, san hô… Cùng ngày, nhiều nghị sỹ Philippines cho rằng, dù đối đầu nên được giải quyết thông qua đàm phán nhưng “sự cố trên sẽ không phải là cuối cùng” và nước này nên thông báo sự cố tương tự cho Mỹ, ASEAN và LHQ.
Ngày 15/4, bốn tàu chiến thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga gồm tàu tuần dương trang bị tên lửa dẫn đường Varyag, ba tàu chống tàu ngầm Nguyên soái Shaposhnikov, Đô đốc Panteleyev và Đô đốc Vinogradov cùng máy bay chiến đấu, trực thăng, lính thủy đánh bộ và các tàu hậu cần rời cảng Vladivostok tới Hoàng Hải tham gia tập trận cùng hải quân Trung Quốc. Hơn 20 tàu chiến của Nga và Trung Quốc sẽ tham gia tập trận chung trên biển Hoàng Hải từ ngày 22-27/4. Trong một diễn biến khác, quân đội Mỹ và New Zealand lần đầu tiên 27 năm qua sắp tiến hành cuộc tập trận chung mang tên Alam al-Halfa tại khu vực Palmeston North nước này. Diễn ra từ 26/4 tới 6/5, cuộc tập trận bao gồm khoảng gần 100 binh sỹ Mỹ và 1.500 quân New Zealand.
Biển Đông Đầy Sóng Gió
A Sea of Troubles
Simon Long, Columnist, Singapore
The World in 2011,
The Economist, December 2010
Đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) mà hiện nay Trung Quốc đang chiếm đóng, sẽ rất có thể đưa đến xung đột.
Biển Đông. Ảnh: The Economist 
|
Trong 10 năm vừa qua, giới hàn lâm và những học giả về luật pháp có những cuộc tranh luận về một đề tài mà chỉ một số ít người hiểu biết. Đó là chủ quyền trên một số đảo, đảo san hô, và những bãi cát trong vùng Biển Đông (South China Sea). Tuy nhiên, trong năm 2010, vùng biển này đã trở thành một vấn đề được chú ý tới. Trung Quốc tập luyện hải quân ở đây. Hoa Kỳ gửi hàng không mẫu hạm nguyên tử George Washington tuần tra ở khu vực này, kể cả cuộc viếng thăm Việt Nam đầu tiên của chiến hạm này. Hoa Kỳ, Trung Quốc và những quốc gia Đông Nam Á ven biển tranh cãi về Biển Đông. Những cuộc tranh cãi này sẽ làm inh tai nhức óc trong năm 2011.
Có bốn diễn biến gặp nhau ở vùng Biển Đông. Một là chính quyền Obama tái xác nhận vai trò của Hoa Kỳ với tư cách một cường quốc ở Á châu, một thế lực duy trì hòa bình, và cộng tác viên đối với một số quốc gia láng giềng của Trung Quốc. Thứ hai, Trung Quốc xác định là một cường quốc ở trong vùng. Thứ ba, Trung Quốc tăng cường biểu dương sức mạnh quân sự để hỗ trợ vị thế cường quốc. Thứ tư, cho đến nay chưa tìm kiếm ra một diễn đàn nào hiệu quả để có thể đưa những tranh chấp ra bàn cãi và sau cùng có thể đi đến một giải pháp.
Trước khi đến Việt Nam, hàng không mẫu hạm George Washington đã hoạt động ở ngoài khơi Nam Hàn. Hoa Kỳ ủng hộ luận điểm của Nam Hàn – được hỗ trợ bởi một một cuộc điều tra quốc tế – theo đó, Bắc Hàn chịu trách nhiệm về việc đánh chìm chiến hạm Cheonan của Nam Hàn vào tháng 3, 2010. Điều này đặt Hoa Kỳ vào vị thế đối nghịch với Trung Quốc khi quốc gia này từ chối không quy trách nhiệm cho một đồng minh lâu năm. Biến cố Cheonan cũng đã đưa đến một cuộc biểu dương lực lượng hải quân bởi cả hai quốc gia ở ngoài hải phận của Bắc và Nam Hàn. Trong năm 2011, sự căng thẳng sẽ gia tăng. Ngoài khác biệt về lập trường liên quan đến vụ chiến hạm Cheonan và chiến thuật thuyết phục Bắc Hàn hủy bỏ võ khí nguyên tử, hai nước sẽ có hai đường lối khác nhau đối với việc thay đổi cấp lãnh đạo tại Bắc Hàn.
Căng thẳng có thể gay gắt hơn tại vùng Biển Đông so với vụ Nam Bắc Hàn. Việc Trung Quốc công bố lập trường coi Biển Đông là một vấn đề quan trọng chính như Tây Tạng và Đài Loan đã làm Hoa Kỳ quan ngại và đã khiến Hoa Kỳ xác định quyền lợi quốc gia đối với vấn đề tự do lưu thông ở Biển Đông. Lập trường này được công bố trong những buổi họp ôn hòa và bình thường của Diễn Đàn Quốc Gia Đông Nam Á được tổ chức tại Hà Nội. Gần một nửa trong số 27 quốc gia có mặt tại hội nghị đã bầy tỏ sự ủng hộ đối với lời kêu gọi của Hoa Kỳ về việc tìm phương thức mới để giải quyết tranh chấp.
Trên hết, Trung Quốc (Đài Loan), Brunei, Mã Lai, Phi Luật Tân, và Việt Nam đều đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ trong Biển Đông. Ngay cả Nam Dương cũng có một phần lãnh hải nằm trong bản đồ của Trung Quốc. Nhưng đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) hiện nay Trung Quốc đang chiếm đóng, sẽ rất có thể đưa đến xung đột. Chính vì vậy mà sự thân thiết giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, một đối thủ truyền thống của Trung Quốc, mang tính cách khiêu khích. Điều này sẽ còn thể hiện mạnh mẽ hơn vào năm 2011, khi Hoa Kỳ tăng cường thỏa hiệp với Việt Nam về sự hợp tác nguyên tử dân sự. Đối với những quan sát viên Trung Quốc, việc này nhắc nhở đến sự hợp tác gây tranh cãi tương tự với Ấn Độ và có vẻ liên hệ tới chính lược be bờ của Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, Trung Quốc đã gây ra sự nghi ngờ của các nước láng giềng. Các tầu của Trung Quốc coi Biển Đông như một cái hồ của Trung Quốc. Những bản đồ bí ẩn của Trung Quốc cho thấy Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền trên những vùng rất lớn vượt ra ngoài cả những phạm vi có thể chứng minh được dù sử dụng cả chủ quyền trên các hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong năm 2010, Trung Quốc phô trương bằng cách cho một tầu ngầm nhỏ cắm cờ dưới lòng biển sâu đến hơn hai dặm (chính xác là 3,759 thước).
Tầm ảnh hưởng của hải quân Trung Quốc không những bành trướng sâu hơn mà còn phát triển xa hơn từ bờ biển. Vào năm 2010, Sri Lanka khánh thành một hải cảng do Trung Quốc xây ở phía nam tại Hambantota. Công việc xây cất một hải cảng khác đang được tiến hành tại Gwadar, Pakistan. Chiến hạm của Trung Quốc đã viếng thăm Myanmar lần đầu tiên. Tất cả những sự việc này làm tăng sự nghi ngờ của Ấn Độ về một chiến lược gọi là “chuỗi hạt trai” nhắm vào việc ngăn chặn sự vận chuyển của tầu bè Ấn Độ. Đây là một phần của việc bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc và Biển Đông sẽ là trọng điểm của mối lo ngại.
Thời gian để chuẩn bị cho một ngày mưa gió
Sự lo ngại này được tăng cường bởi hai khía cạnh đặc biệt của việc hiện đại hóa quân lực Trung Quốc. Thứ nhất, chương trình không được công bố về việc chế tạo hàng không mẫu hạm. Thứ hai, chương trình chế tạo hỏa tiễn đạn đạo chống chiến hạm lần đầu tiên trên thế giới mà Trung Quốc và một báo ngoại quốc đã giới thiệu là một loại võ khí nhắm tiêu diệt các hàng không mẫu hạm và sẽ làm đảo lộn chiến thuật trên biển.
Tuy nhiên nhiều chiến lược gia Hoa Kỳ tiếp tục tin tưởng rằng quan niệm Trung Quốc bắt kịp sức mạnh kỹ thuật của Hoa Kỳ là vượt xa thực tế. Trong khoảng thời gian sắp tới, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục là một lực lượng hàng hải đứng đầu trong Biển Đông, nhưng không đủ để có thể bảo đảm nền hòa bình. Công việc này đòi hỏi những diễn đàn để giải quyết những tranh chấp trong vùng chứ không chỉ là những nơi để trò chuyện. Trung Quốc đã có thể ấn định những điều kiện để tranh luận về Biển Đông bằng cách từ chối tất cả những việc bàn cãi về những tranh chấp ngoại trừ những buổi họp song phương.
Trong năm 2011, tình hình sẽ rõ rệt hơn đối với Đông Nam Á rằng một hoạt động ngoại giao đa phương sẽ mang lại lợi ích cho cả vùng. Quyền lợi của Đông Nam Á đòi hỏi một cơ chế để giải quyết những căng thẳng nội bộ một cách dễ dàng – thí dụ như giữa Nam Dương và Mã Lai hoặc giữa Cam Bốt và Thái Lan. Chiếc dù Hoa Kỳ tiếp tục bảo vệ sự an toàn trong vùng nhưng sẽ không chống được mưa mãi mãi.
Bản tiếng Việt: Nguyễn Quốc Khải
(theo Đàn Chim Việt)
Biển Đông nổi sóng lừng
Ảnh: chinadaily
|