Tin quốc ngoại

Minxin Pei (*), Trúc An dịch : Đến lượt Trung Quốc phải xoay chiều?

Thêm vào danh sách yêu thíchPhản hồi thông tinBản inĐăng tải ngày: 19/12/2011
Minxin Pei (*), Trúc An dịch : Đến lượt Trung Quốc phải xoay chiều?

Tất nhiên, liệu chế độ độc đảng nổi tiếng đa nghi chính trị có thể đạt được một kỳ công về sự khéo léo và tinh vi chiến lược như thế, còn là sự suy đoán của một người nào đó. Để chứng minh cho những người hoài nghi thấy rằng họ sai sẽ tùy thuộc vào Trung Quốc.



 
 

Trích một phần bình cho cuốn

Hồ sơ tội trạng của Henry Kissinger

c giả:
Chistopher Hitchens là một ký giả Hoa Kỳ gốc Do Thái, chuyên về săn tin điều tra và viết bình luận cho tờ The Nation và The Harper Magazine tại Hoa Kỳ. Ông nổi tiếng qua các loạt bài về phóng sự đìều tra nhắm vào mặt trái của các nhân vật tên tuổi như Mẹ Theresa, Công chúa Diana và Tổng Thống Clinton.
alt
Chương 1 tiết lộ các bí mật trong hậu trường chính trị Hoa Kỳ vào năm 1968,
mặc dù các chính phủ liên tiếp được giữ kín.
 Bí mật đó là: Vào mùa thu 1968 trong thời kỳ tranh cử, chính Richard Nixon và các đặc sứ của ông đã cố tình phá hoại Hoà đàm Paris bằng cách hứa hẹn bí mật với giới lãnh đạo Nam Việt Nam là chính quyền của Đảng Cộng Hoà (nếu thắng cử) sẽ tạo vị thế thuận lợi cho Nam Việt Nam hơn là chính phủ của Đảng Dân Chủ. Hậu quả là Nam Việt Nam đã tin theo và tẩy chay Hoà đàm Paris khi triển vọng ký kết sắp thành hình. Những đề nghị hòa đàm do Đảng Dân chủ đưa ra bị phá vỡ. Vào đúng bốn năm sau chính Richard Nixon cũng đã dùng các điều kiện này của Đảng Dân Chủ để vận động lại hòa bình cho Việt Nam. Hậu quả tàn khốc của kế hoạch này là cuộc chiến kéo dài thêm 4 năm nữa với số tổn thất 20.000 người Hoa Kỳ và vô số người Đông Dương. Theo suy luận của tác giả, tất cả đều nằm trong dụng ý của Henry Kissinger.
Những bằng chứng về lời cáo buộc này được tác giả nêu ra:
- Thứ nhất là những tin tức trích ra từ nhật ký của H. R. Haldeman, Diary of Haldeman, một cộng sự viên của Richard Nixon và Henry Kissinger, người phụ trách việc lập các biên bản. Tài liệu này được công bố vào tháng 5 năm 1994.
- Một tài liệu thứ hai là cuốn sách Counsel to the President: A Memoir của Clark Clifford, Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ. Sách được ấn hành năm 1991.Theo Clifford xác nhận thì vào thời điểm này đã có sự gặp gỡ bí mật giữa Tổng Thống Thiệu và John Mitchell, Giám Đốc Tranh Cử của Richard Nixon. Ông Mitchell được Bà Anna Chennault (Trần Hương Mai - 陳香梅), một lobbyist của Đài Loan làm trung gian hỗ trợ.
- Tài liệu thứ ba là Hồi ký của Richard Nixon, The Memoirs of Richard Nixon. Ông xác nhận giữa tháng 9/1968 ông được tin riêng là Johnson sẽ ra lệnh ngưng dội bom đề tạo điều kiện cho Bắc Việt vào Hội nghị. Điều này không làm ông ngạc nhiên. Henry Kissinger báo cho ông biết là lệnh ngưng dội bom sẽ công bố vào 23/10. Nhưng từ tháng 6/1968 Nixon qua trung gian của bà Anna Chennault đã gặp riêng Đại Sứ Bùi Diễm tại New York.
- Tài liệu thứ tư là điện văn của Đại Sứ Bùi Diễm gởi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 23/10/1968. Ông Bùi Diễm cũng yêu cầu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên giữ vững lập trường, vì ông đã được Đảng Cộng Hoà xác nhận ủng hộ miền Nam. Qua các tài liệu nghe lén từ Toà Đại Sứ và theo dõi hoạt động của bà Anna Chennault đươc phổ biến sau này cho thấy rõ vấn đề hơn: Cứ mỗi lần phe Bắc Việt Nam có thiện chí ký kết thì chính phe Nam Việt Nam lại ngã giá, đặt điều kiện cao hơn.
- Tài liệu thứ năm là cuốn sách của Anthony Summers, The Arrogance of Power: The Secret World of Richard Nixon, xuất bản năm 2000. Đây là một tổng hợp các hồ sơ nghe lén của Richard Nixon, trong đó có chiến dịch tranh cử năm 1968. Qua hồ sơ của một điệp viên ngày 02/11/1968 thì bà Anna Chennault gặp Đại sứ Bùi Diễm để xác nhận sự ủng hộ của Richard Nixon và yêu cầu phía Nam Việt nam phải giữ vững lập trường. Richard Nixon tin rằng Nam Việt Nam sẽ thắng.
Trong thời kỳ này Henry Kissinger nằm trong bóng tối và điều động từ hai phía. Một mặt ông đưa tin mật ra bên ngoài, một mặt ông tình nguyện cung cấp tin này cho Nelson Rockefeller để tùy nghi khai thác. Ông cũng nói cho Zbignew Brzezinski biết là ông ghét Richard Nixon từ lâu và không tin Nixon thắng cử. Mặt khác ông sử dụng Anna Chennault và John Mitchell trong các điệp vụ ngoại giao riêng của ông. Điều này tạo một ấn tượng chung lúc bấy giờ là Richard Nixon không liên hệ gì đến những vụ dội bom Bắc Việt và mọi diễn tiến đều diễn ra từ phía Đảng Dân Chủ. Ông cũng cố tình cho thấy là chính ông cũng không biết gì vấn đề này.
Cuối chương sách tác giả đề cập tới vai trò của Henry Kissinger trong cái gọi là "40 Committee". Đây là một tổ chức nhằm nghe lén và kiểm soát các hoạt động tình báo tại hải ngọai được thành lập từ thời Tổng Thống Truman. Trong cuộc điều tra của Thượng Viện năm 1973, Giám Đốc CIA William Colby cũng xác nhận có tổ chức này và cho biết Henry Kissinger chịu trách nhiệm điều hành, đặc biệt Kissinger nới rộng hoạt động tới các phạm vi tình báo quốc nội, điều mà trước đây luật pháp không cho phép.
 
Chiến tranh Việt Nam
 
Chương 2 nói tới hoạt động của Henry Kissinger tại Đông Dương.

Vào giữa thập niên 60 khi mọi người vẫn lạc quan cho cuộc chiến là có ý nghiã và phần thắng nghiêng về phiá miền Nam thì ông bắt đầu nghi ngờ khả năng của phe Nam Việt Nam sau lần đi thăm Việt Nam về. Ông đã âm thầm tiếp xúc với Bắc Việt qua trung gian hai người Pháp là Raymond Aubrac, một công chức nguời Pháp và là bạn của Hồ Chí Minh và Herbert Marcovitch, một nhà Vi Sinh Vật Học của Viện Pasteur, đã đi Hà Nội nhiều lần. Qua tin tức cung cấp từ hai người Pháp này ông đã đặc biệt tìm hiểu về khả năng và vị thế thương thuyết của từng nhà lãnh đạo miền Bắc. Ông cũng đưa tin này cho Robert McNamara. Song song với công việc này, ông cũng xúc tiến việc xích lại gần nhau của các siêu cường. Dù trong kế hoạch của Việt Nam hay quốc tế, ông luôn luôn có ý niệm chung: tất cả đều là phương tiện trong mục tiêu của cá nhân ông, có lúc ông chú trọng mục tiêu này và sao lãng mục tiêu kia.
Tác giả nêu lại cơ hội tái lập hoà bình để lỡ của năm 1968 làm thí dụ điển hình. Theo lời khai của Averell Harrimann, Trưởng Phái đoàn Thương thuyết tại Hòa Đàm Paris thì tháng 10 và 11/1968 có 90% các lực lượng chiến đấu của miền Bắc đã rút khỏi ra hai tỉnh phía Bắc Nam Việt Nam, như Hiệp định dự kiến, còn việc ngưng dội bom miền Bắc chỉ là một điểm của Hiệp Định mà thôi. Tháng 12/1968 chính là thời kỳ chuyển tiếp từ chính quyền Johnson sang Nixon. Giới lãnh đạo quân sự tại Hoa Kỳ lại thay đổi chiến lược triệt để. Tướng Creighton Abrams đồng ý mở một cuộc chiến tranh toàn diện nhằm phá hoại mọi hạ tầng cơ sở của Việt Cộng tại miền Nam, điển hình là chiến dịch hành quân càng quét tại Kiến Hoà trong 6 tháng đầu năm 1969, mà người Hoa Kỳ gọi là Operation Speedy Express. Qua tài liệu của Haldeman thì Henry Kissinger chú tâm tới kết quả cuộc bầu cử 1972 tại Hoa Kỳ hơn là việc rút quân để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Trong hồi ký của ông Henry Kisssinger, ông cũng xác nhận là sự rút quân đột ngột gây khó khăn về uy tín cho Hoa Kỳ. Sự can thiệp của Charles De Gaulle về vấn đề dội bom miền Bắc không gây ảnh hưởng gì đến Henry Kissinger, vì lúc bấy giờ ông quan tâm tới ý kiến của Brezhnev và Mao Trạch Đông hơn.
Một tội trạng khác được nêu lên là vụ ném bom miền Bắc vào mùa Giáng Sinh 1972. Bây giờ là mùa tranh cử tại Hoa Kỳ bắt đầu.  Theo tác giả, quyết định dội bom không phải là có tính cách quân sự thuần túy mà vì lý do chính trị. Ông chứng minh, một mặt Hoa Kỳ chứng tỏ cho thấy thế mạnh của mình để gây hậu thuẫn cho Đảng Cộng Hòa trong trong Quốc Hội và đưa phe Dân chủ về phía thụ động, mặt khác muốn gây niềm tin cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thấy là không nên sợ hãi trước việc Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam.
Tội trạng liên quan đến Kambodia được tác giả nêu lên ở cuối chương. Đúng ngày 12/05/1975 là ngày Khmer Đỏ chiếm chính quyền thì một tàu chiến Kambodia đã kéo theo một tàu hàng của Hoa Kỳ tên là Mayaguez. Tàu này nằm trong lãnh hãi của Kambodia và được kéo về đảo Koh Tang. Mặc dù được biết tin là thủy thủ đoàn đã được trả tự do, Henry Kissinger cũng cố tình làm áp lực lên Henry Ford, Tổng Thống kế nhiệm thiếu kinh nghiệm, một biện pháp trả đũa để giữ thể diện. Kết quả cuộc tấn công này là trong 110 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có đến 18 người chết và 50 nguời bị thương; phía Không Quân tham dự có 23 quân nhân tử trận. Hoa Kỳ đã thả 680 tấn bom trên đảo này và không ai biết được con số thương vong của người dân vô tội Kambodia một cách chính xác. Trong một cuộc điều tra tại Quốc Hội cho thấy Henry Kissinger ít nhất phải biết được tin thủy thủ đoàn đã được thả trước khi có quyết định can thiệp.

Chương 3 là trọng điểm của cuốn sách đuợc tác giả dùng để tổng hợp tội trạng của Henry Kissinger trong chiến tranh Việt Nam.
Khởi đầu tác giả sử dụng cuốn sách Nuremberg and Vietnam: an American tragedy của Tướng Telford Taylor để làm tài liệu phân tích. Theo Taylor, thì những nguyên tắc luật pháp áp dụng tại Tòa Án Quốc Tế Nürnbeg và Tokyo cũng nên áp dụng cho trường hợp Việt Nam. Bản án Nürnberg đã được Liên Hiệp Quốc chuẩn nhận ngày 11/12 /1946 và trở thành nguyên tắc Luật Quốc Tế sau này. Như vậy Hoa Kỳ cũng phải tôn trọng nguyên tắc này khi tham chiến tại Việt Nam. Những bị cáo cũng có thể lập luận rằng mục tiêu chiến đấu của chiến tranh Việt Nam là danh dự và cao cả; những người có trách nhiệm đều vô tội, vì không ai có thể lường trước được những kết quả tàn khốc của một cuộc chiến lan rộng và một phần khác là thiếu thông tin chính xác. Cũng theo Telford Taylor thì lập luận này có thể được chấp nhận được cho đến giữa thập niên 60. Từ sau vụ thảm sát Mỹ Lai 16/03/1968 không ai có thể cho là mình không biết đến mức độ vô nhân đạo trong các cuộc tàn sát khi chiến tranh đã leo thang lên cao điểm.
Một lập luận khác của William Corson, Đại Tá Hoa Kỳ, cũng nêu lên để phản chứng. Theo William Corson, sự khốc liệt trong chiến tranh Việt Nam không có yếu tố hình sự để buộc tội, đó chỉ là sự ước lượng sai lầm của giới lãnh đạo Hoa Kỳ từ đầu đến cuối sự tham chiến.
Lập luận này không được Telford Taylor chấp nhận. Ông nêu lên những đặc điểm trong chiến tranh Việt Nam, điều mà người ta không thể so sánh với các cuộc chiến tranh trước đây. Một mặt những vũ khí được trang bị tại Việt Nam rất hiện đại và di động, mặt khác phương tiện truyền thông từ Hoa Kỳ đến Việt Nam cũng như từ trung ương đến hạ tầng được bảo đảm. Một điều có thể suy đoán được là Henry Kissinger và Tướng Creighton Abrams phải biết được tầm mức lan rộng chiến tranh đến thường dân vô tội và họ ít nhất phải được thông báo đầy đủ về vấn đề này.
Theo tài liệu của John Mc Naughton, Đại Diện Bộ Quốc Phòng, cho thấy giới lãnh đạo Toà Bạch Ốc vào năm 1967 chỉ muốn một phương cách duy nhất để quét sạch Việt Cộng bằng cách đốt nhà dân chúng, phá hết rừng rậm và tráng nhựa lại hết toàn bộ miền Nam.
Một bằng chứng khác là cuộc Hành Quân Bình Định Nông Thôn tại Kiến Hòa vào sáu tháng đầu năm 1969. Tài liệu của Kevin Buckley, Trưởng Văn phòng Tuần báo Newsweek tại Sài Gòn cho thấy Henry Kissinger có tiếng nói quan trọng trong quyết định này. Theo Kevin Buckley thì tổng số thương vong của cộng quân trong cuộc hành quân này là 10.899 người, nhưng bằng chứng khác cho thấy số thương vong của dân chúng lên trên 5.000 người, vượt qua hẳn con số của vụ Mỹ Lai. Một câu hỏi được đặt ra là từ đâu có những con số này thì một sĩ quan Sư Đoàn 9 Không Kỵ Hoa Kỳ trả lời là: các trực thăng có thể đếm các xác của kẻ thù không có vũ khí này từ trên những cánh đồng. Một nghịch lý khác được tác giả nêu lên là so với gần 11.000 người chết mà số vũ khí tịch thu được chỉ có 748. Theo ước lượng của tác giả thì cuộc hành quân này mức độ khốc liệt hơn Mỹ Lai nhiều.
Tác giả trưng dẫn một tài liệu khác của Tad Szulc qua cuốn sách The Illusion of Peace: Foreign Policy in the Nixon Years . Theo đó thì chính Henry Kissinger đã có lần đề nghị sử dụng bom nguyên tử để phá hoại đường tiếp tế Hoa-Việt và một lần khác nhằm phá hệ thống đê điều của miền Bắc. Nhưng đề nghị này đã không được chấp thuận.
Vấn đề dội bom Kambodia cũng được đặt ra. Theo tác giả thì không có một căn bản pháp lý nào cho việc nới rộng chiến tranh này cũng như một đảm bảo an toàn nào cho các thường dân. Các tài liệu của Toà Bạch Ốc và Bộ Quốc Phòng cho thấy là trong quyết định oanh tạc sang Kambodia và Lào, tổn thất các nạn nhân vô tội được dự kiến trước. Theo tác giả có it nhất 660.000 thường dân tại Kambodia và 350.000 tại Lào phải hy sinh oan uổng. Trong Hồi ký của Henry Kissinger ông có đề cập tới vấn đề này và cho là lệnh dội bom đến từ nhiều cơ quan khác nhau và điều này có thông báo cho Quốc Vương Sihanouk biết trước. Theo tác giả thì chính Henry Kissinger góp phần quan trọng vào vấn đề này và ông đã theo dõi chặt chẽ diễn tiến các cuộc oanh tạc Kambodia. Không thể nào lập luận rằng ông không có ý thức sự nguy hiểm của quyết định này. Sự chấp thuận của Quốc Vương Sihanouk, nếu có, cũng không giải tội cho Henry Kissinger được. Những người trong cuộc như Robert McNamara, George Bundy và William Colby đã chính thức lên tiếng hối lỗi và cố gắng giải thích vấn đề. Còn Henry Kissinger thì tuyệt nhiên cho đến nay không có những phản ứng gì tương tự.
Tác giả cũng tố giác việc Hoa Kỳ đếm xác người Việt để báo cáo lấy thành tích, điều mà họ không phân biệt thường dân hay quân nhân. Một thí dụ được nêu lên để minh chứng là số tử thương chính thức từ tháng 03/1968 cho đến tháng 02/1972: Hoa Kỳ: 31.205, Nam Việt Nam: 86.101 và đối phương: 475.609. Cũng nên biết là trong thởi kỳ này Hoa Kỳ đả bỏ 4.500.000 tấn chất nổ xuống Đông Dương. Theo ước lượng của Thượng Viện Hoa Kỳ thì ít nhất có trên ba triệu thường dân thiệt mạng.  Một con số khác được CIA đưa ra là chỉ có 35.708 thường dân bị bắt cóc và giết chết trong chiến dịch Phượng Hoàng, cũng là điểm đáng nghi ngờ. Những con số này được Henry Kssinger đưa ra để phần lừa dối, phần dấu nhẹm công luận và tránh áp lực của Quốc Hội. Tác giả đã trích dẫn Nhật ký của Haldeman để dẫn chứng sự kiện này ở cuối chương sách.
....................................
Nhận xét:
Trước đây đã có nhiều tác phẩm phê bình về đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ và của Henry Kissinger, nhưng đây là lần đầu tiên một hình thức cáo trạng dày công sưu tập từ những tư liệu mới được trình bày.
Qua hình thức thì đây là một công trình đáng ca ngợi của tác giả, một ký giả chuyên về điều tra (investigative journalism). Thiện chí này được tìm thấy qua nỗ lực tìm kiếm từ những nguồn tài liệu khác nhau và phức tạp.
Qua nội dung thấy được sự nghiên cứu của tác giả về lãnh vực Luật Quốc Tế, đặc biệt về các phương thức hình sự tố tụng, còn hạn chế. Tác phẩm này không phải là một cáo trạng đúng nghĩa theo hình thức luật học, đặc biệt lại càng không đúng theo phương thức hình sự tố tụng trước Toà Án Quốc Tế khi mà các kỹ thuật trưng dẫn các tài liệu thiếu khoa học và không thuyết phục. Tác giả đã không nêu các bằng chứng xuyên xuốt, thống nhất; đôi khi lầm lẫn giữa những sự kiện lịch sử, hậu quả pháp lý cũng như những phán đoán về đạo đức cá nhân của Henry Kissinger; đôi khi những lời cáo buộc chỉ dựa trên những cảm xúc trước những bất công hơn là một lời kết luận dựa trên cơ sở lập luận chặt chẽ của Hình Luật. Trong tất cả các tội danh được cáo buộc thì phần liên hệ đến chiến tranh Đông Dương có nhiều tính thuyết phục và có triển vọng thành công trước Toà Án Quốc Tế nếu các tài liệu được bổ túc đầy đủ và khoa học hơn. Trở ngại chủ yếu vẫn là tài liệu từ người trong cuộc. Hiện nay các tư liệu của Henry Kissinger đã được ký gởi tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, không được khai thác. Theo di chúc của ông thì các tài liệu này được phép sử dụng sau khi ông chết năm năm. Do đó một đề án khởi tố ông hiện nay khó có cơ may thành công.
Tác phẩm này là một gương can đảm của tác giả, nó đã gây tiếng vang về mặt chính trị. Liệu người Việt Nam, những nạn nhân trực tiếp của Henry Kissinger còn sống sót có khả năng, thiện chí và nỗ lực để khởi tố thủ phạm hay không, hay chỉ tiếp tục ngậm ngùi than rằng: "con kiến mà kiện củ khoai". Ước mong sao vấn đề này sẽ được thảo luận sâu rộng hơn.

© Thông Luận 2010

 


Mỹ và Á Châu Thái Bình Dương.

*Từ hội nghị thượng đỉnh APEC đến hội nghị thượng đỉnh EAS

*Ngày thứ sáu 11.11.2011,tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã rời Hoa Thịnh Đốn để làm một chuyến công du kéo dài 9 ngày trong vùng Á Châu Thái Bình Dương và trạm nghỉ đầu tiên của ông là Honolulu.Đây là nơi có cuộc họp thượng đỉnh diễn đàn kinh tế Á Châu Thái Bình Dương APEC (tổ chức này gồm 21 quốc gia hội viên trong đó có Trung Hoa và Nga) và theo như chương trình cuộc thăm viếng,Hoa Kỳ sẽ mở ra các cuộc thảo luận về việc lập ra một vùng tự-do mậu-dịch (libre-échange) giữa Hoa-Kỳ và 8 nước trong vùng gồm Australie,Brunei,Chili,Malaisie,Nouvelle Zélande,Pérou,Singapour và Việt Nam.

Trước khi tổng thống Hoa Kỳ rời nước Mỹ vài giờ,thủ tướng Nhật đã loan báo nước Nhật cũng sẽ tham dự vào cuộc thảo luận về việc Nhật Bản tham dự vào thoả hiệp thương mại.Điều này cũng khiến nhiều cường quốc trong vùng tham gia vào cuộc thảo luận như Trung Hoa chẳng hạn.

Sau Honolulu,tổng thống Barack Obama sẽ đến Úc,sau đó viếng thăm Indonésie để tham dự hội nghị thượng đỉnh Đông Á và trở thành vị tổng thống Mỹ đầu tiên tham dự hội nghị của tổ chức này. Indonésie là nước mà ông Barack Obama đã sống một thời gian trong thời niên thiếu và lần này là lần thứ hai ông viếng thăm Indonésie.

Chuyến công du 9 ngày của ông Barack Obama cốt để nhằm củng cố lại vị thế của Hoa Kỳ trong vùng,gia tăng mối liên hệ của Hoa Kỳ với các đồng-minh,cho thấy Hoa Kỳ tiếp tục giữ một vai trò chính trong vùng và là một thế lực kình chống với việc gia tăng ảnh hưởng trong vùng của Trung Hoa.

Barack Obama,sinh quán ở Hawai,tự coi như là vị tổng thống thứ nhất của Hoa Kỳ có gốc Thái Bình Dương,đã có thêm được sự liên kết của Gia Nã Đại và Mễ Tây Cơ vào dự án 'Partenariat Transpacifique'(TPP) sau khi có được sự liên kết của Nhật Bản vào ngày thứ sáu.Trong một cuộc tiếp đón dành cho 20 nước thành viên của APEC,ông Obama đã cho biết 'ngày nay,chúng tôi có một cơ may tiến tới mục tiêu tối hậu của chúng tôi:một nền kinh tế vùng không bị ngăn trở'.Tổng thống Mỹ cũng đã loan báo trong ngày thứ bảy là 9 nước trong tổ chức vùng TPP đã đạt tới sự đồng thuận về những đường hướng chính và sẽ đưa tới một văn kiện pháp lý vào năm tới.Vùng tự do mậu dịch này,qui tụ trên 800 triệu người tiêu thụ và chiếm 40% kinh tế thế giới,khi thành hình sẽ trở thành liên hiệp thương mãi lớn nhất thế giới,vượt xa Liên A6u vì tổ chức này chỉ chiếm một phần tư kinh tế thế giới!

Có thể nói ông Barack Obama chờ đợi một sự tăng gia hoạt động kinh tế thế giới nhằm giảm thiểu sự thất nghiệp ở Hoa Kỳ và điều này sẽ  có một ảnh hưởng lớn đến việc khả dĩ tái đắc cử của ông:cuộc bầu cử tổng thống sẽ diễn ra trong năm tới.Ông mong muốn lợi dụng sự tăng trưởng kinh tế của khu vực Á Châu Thái Bình Dương vì khu vực Âu Châu hiện đang  ngưng trệ!Ông Obama đã nhấn mạnh trong ngày chủ nhật 13.11 "Vùng Á Châu Thái Bình Dương thiết yếu tuyệt đối cho tăng trưởng kinh tế của Mỹ.Chúng tôi tin tưởng đó là một ưu tiên tuyệt đối".

Cùng lúc,như để hưởng ứng,bà Christine Lagarde,tổng giám đốc FMI,tuyên bố với các tham dự viên là 'tất cả mọi nước trên thế giới phải làm vai trò của họ để tái lập quân bình kinh tế thế giới'

Trong tài liệu kết thúc cuộc hội nghị lần thứ XIXè của APEC,các đại biểu cho biết hội nghị diễn ra trong một thời kỳ khó khăn.Tuy nhiên, các quốc gia trong khối APEC chiếm 60% PIB của thế giới đã có một sức nặng đối với kinh tế thế giới.Việc tự do hoá thương mãi sẽ đóng góp vào sự phát triển kinh tế ổn định trên thế giới..

*Vào ngày 16 và 17 tháng 11,tổng thống Mỹ Barack Obama đã đến thăm Australie.Trước đây,ông đã dự định viếng thăm Australie hai lần nhưng đã phải hủy bỏ,một lần vì phải dành nỗ lực cho việc cải cách về y tế và lần thứ hai vì việc thảm nạn môi sinh trong vùng vịnh Mexique do việc một dàn khoan dầu bị hỏng để thoát dầu lên mặt biển.Nhưng lần này ông đã thực hiện được chuyến công du Australie và cuộc thăm viếng này trùng với kỷ niệm 60 năm minh ước ANZUS (đây là một minh ước quân sự được ký kết ngày 01.09.1951 tại San Francisco gồm ba nước Australi,Nouvelle-Zélande và USA)

Đối phó với tham vọng bành trướng của Trung Hoa qua các nỗ lực phát triển về hải quân cũng như qua có nỗ lực  chiêu dụ các tiểu quốc hải đảo trong vùng,Hoa Kỳ tìm kiếm một sự cộng tác trong vùng để làm thăng bằng lực lượng và cũng muốn nói lên tham vọng duy trì Thái Bình Dương trong vòng ảnh hưởng của Mỹ.Không phải là một sự ngẫu nhiên khi vào tháng bảy vừa qua,một cuộc thao diễn  hải quân, dưới sự điều động của Hoa Kỳ, đã được thực hiện trong vùng biển San Hô (Corail) với sự tham dự của Úc,Tân Tây Lan,Nhật Bản và lực lượng hải quân Pháp đặt căn cứ ở Nouvelle-Calédonie.Để che dấu ý định quân sự,cuộc thao diễn này được khoác dưới danh hiệu ' diễn tập quân-sự nhân-đạo đối tác đoàn Thái Bình Dương 2011' (exercice militaro-humanitaire - Pacific Partnership 2011) Như thế,trong ngày thứ tư,tổng thống Mỹ Obama đã đến Úc trong một cuộc thăm viếng mang dấu hiệu hợp tác quân sự.

Tổng thống Hoa Kỳ loan báo một sự tăng cường thao diễn quân sự trong vùng lảnh thổ phiá bắc (territoire du Nord),ở căn cứ Bradshaw và căn cứ chiến đấu phòng không Delamere,cách Darwin 80 cây số,một căn cứ đã từng được Hoa Kỳ xử dụng để thực tập ném bom .Đây là việc phát triển quan-hệ Mỹ Úc quan trọng nhất kể từ năm 80.Trong bài diễn văn ngày thứ năm17.11 đọc trước Quốc Hội Úc,tổng thống Obama tuyên bố coi vùng Á Châu Thái Bình Dương như là một vùng của tương lai,xác nhận sự cam kết của nước ông với vùng này,nhấn mạnh sự hợp tác với vùng này có một phát triển mạnh sẽ giúp Hoa Kỳ giải quyết các khó khăn kinh tế."Là một vùng có sự phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới, - và là vùng đại diện cho một nửa kinh tế thế giới - Á Châu thiết yếu cho việc hoàn thành các ưu tiên lớn nhất của tôi,đó là tạo ra công việc và cơ vận cho người Mỹ..Là vùng chứa phần lớn các cường quốc nguyên tử và gần một nửa nhân loại,vùng này quyết định một phần lớn nếu thế kỷ đang tới sẽ đánh dấu bởi sự tranh chấp hay bằng sự hợp tác,những sự thống khổ vô ích hay những tiến bộ của loài người..Trong cương vị tổng thống, như thế tôi đã lấy một quyết định cân nhắc và chiến lược,như là một quốc gia Thái Bình Dương,Hoa Kỳ sẽ giữ một vai trò quan trọng hơn và lâu dài để định hướng tiến triển và tương lai của vùng này,bằng cách duy trì những nguyên tắc căn bản và trong sự hợp tác chặt chẽ với các đồng minh và thân hữu'.Tổng trưởng quốc phòng Úc Stephen Smith đã ca ngợi sự xích lại gần nhau này và coi đây là một phát triển quan trọng trong liên hệ giữa Úc và Mỹ kể từ thập niên 80.

Trước chuyến thăm viếng Darwin, tổng thống Mỹ đã có tiếp xúc và thảo luận với  thủ tướng Úc Julia Gillard,bày tỏ quan tâm của Hoa Kỳ về quan hệ thương mãi và các trao đổi kinh tế rất chặt chẽ giữa Úc và Trung Hoa.Tổng thống Mỹ đến quốc hội Úc đọc một diễn văn cho biết Hoa Kỳ coi vùng Á Châu Thái Bình Dương là một vùng tương lai và Hoa Kỳ mong muốn phát triển sự hợp tác với Trung Hoa.Như thế,người ta có thể thấy mối quan tâm chính của Hoa Kỳ là vai trò của Trung Hoa ở trong vùng A1 Châu Thái Bình Dương.Nhưng ông Obama đã bác bỏ luận điệu của một số nhà bình luận cho rằng Hoa Kỳ tăng cường hiện diện quân sự ở Úc là vì cảm thấy sự đe dọa của Trung Hoa,một quốc gia đang trỗi dậy.Ông cho biết là thấy một viễn ảnh tốt đẹp trong vùng và có những nỗ lực để tạo ra một quan hệ hợp tác với Trung Hoa,coi việc  một nước Trung Hoa hoà bình và thịnh vượng là điều nằm trong ích lợi của mọi nước trong vùng,Hoa Kỳ sẽ tìm nhiều cơ hội hơn để hợp tác với Trung Hoa kể cả trong lãnh vực thông tin giữa quân đội hai nước để tạo sự cảm thông và tránh những 'lượng định sai lầm'.Ông Obama nhấn mạnh sự dấn thân của nước Mỹ ở Á Châu Thái Bình Dương và coi đó là điều cần thiết để giải quyết khủng hoảng kinh tế của Hoa Kỳ.

Sau chuyến viếng thăm Úc,tổng thống Obama đã sang Indonésie để dự cuộc họp thượng đỉnh các quốc gia Đông Á tại Bali.Đây là lần thứ hai tổng thống Obama viếng Indonesie,một nước mà ông Obama đã có sống một thời gian khi còn niên thiếu.Indonésie là một chuỗi quần đảo,được coi như là 'một hàng không mẫu hạm không thể bị đánh chìm',kiểm soát một điểm chiến lược then chốt ở nam Thái Bình Dương:eo biển Malacca!

*Vào ngày thứ năm 17 tháng 11,cùng lúc tại Bali thuộc Indonésie đã có hai cuộc họp thượng đỉnh,cuộc họp thượng đỉnh lần thứ 19 của tổ chức các quốc gia đông-nam-á (ASEAN) và cuộc họp thượng đỉnh lần thứ sáu của các quốc gia đông-á (EAS). Khối ASEAN gồm các quốc gia Brunei,Cam-bốt,Nam Dương,Lào,Mã Lai,Miến Điện,Phi Luật Tân,Tân Gia Ba,Thái Lan và Việt Nam,còn hội nghị thượng đỉnh đông-á là gồm khối ASEAN cộng thêm Úc,Trung Hoa,Ấn Độ,Nhật Bản,Đại Hàn, Nam Dương và lần đầu tiên có sự hiện diện của Hoa Kỳ và Nga.Hai cuộc hội nghị thượng đỉnh đã kết thúc cùng lúc vào ngày thứ bảy 19.11.Hai cuộc hội nghị này không nhằm đưa ra các kết quả cụ thể nhưng là diễn đàn thảo luận.Nước đứng ra tổ chức hội nghị thượng đỉnh của Asean cho năm tới là Cam-Bốt.

Cuộc họp thượng đỉnh ASEAN được đặt dưới sự chủ tọa của tổng thống Nam Dương Susilo Bambang Yudhoyono và có chủ đề 'cộng đồng ASEAN trong lòng một cộng đồng các quốc gia trên thế giới'.Trong bài diễn văn khai mạc,nét chính được tổng thống Nam Dương gợi ra là sự hợp tác trong vùng và bày tỏ hi vọng là hội nghị sẽ  đưa ra một tầm nhìn cho ASEAN sau 2015.Hai cuộc hội nghị thượng đỉnh ASEAN và EAS sẽ đưa ra nhiều vấn đề liên quan đến vùng,vấn đề giá cả lương thực,tài nguyên về nước,năng lượng,sự thay đổi khí hậu.

Điều khiến người ta lưu ý là cuộc họp kín giữa Wen Jiabao,thủ tướng Trung Hoa và Barack Obama,tổng thống Mỹ.Cuộc họp kéo dài khoảng một giờ,được mô tả là 'rất thân thiện' và 'thẳng thắn',trong ngôn ngữ ngoại giao,có thể hiểu là có nhiều bất đồng quan điểm nhưng không đi đến chỗ gãy đổ.(sau cuộc gặp gỡ ở Bali của Thủ Tướng Trung Hoa và tổng thống Mỹ,giữa Mỹ và Trung Hoa vẫn còn một cuộc họp khác kéo dài hai ngày nhưng tại Trung Quốc.)Theo phụ tá ngoại trưởng Trung Hoa Liu Zhenming 'Hoa Kỳ là một diễn viên quan trọng ở A1 Châu kể từ sau đệ nhị thế chiến..Chúng tôi chờ đợi một cách mất kiên nhẫn việc hợp tác với Hoa Kỳ trong vùng".Trong khi đó,Tom Donilon,cố vấn an ninh quốc gia của Mỹ cho biết các thảo luận đặt nặng về kinh tế và tổng thống Obama đã nêu ra vấn đề gai góc là đồng yuan.Ông Tom Donilon cũng hé lộ cho thấy có sự tranh cãi về vấn đề biển đông khi cho biết "Hoa Kỳ bảo vệ quyền tự do lưu thông và tự do vận chuyển thương mại'.Được biết Trung Hoa đã coi Hoa Kỳ có những hành vi can thiệp vào các tranh chấp những vùng đất nằm trong biển Nam Hải. và theo phụ tá ngoại trưởng Liu,thủ tướng Wen Jiabao đã nói với ông Obama là 'vấn đề sẽ được giải quyết  bằng thương thuyết giữa những phe có liên hệ trực tiếp'!

Tổng thống Obama đã rời Bali vào lúc 5 giờ chiều thứ bảy 19.11 sau một chuyến công du 9 ngày đi từ Hawai đến Úc rồi Indonésie.Chuyến đi của ông được coi là thành công vì tại Bali, hãng Boeing đã bán được 230 Boeing737,trị giá 20 tỉ đô la.Ông Obama đã chủ toạ  buổi ký kết khế ước lịch sử này và nói 'nếu tôi không lầm,thì đây là khế ước quan trọng nhất chưa từng có với Boeing..Một ví dụ cho những cơ vận hiện hữu trong vùng A1 Châu Thái Bình Dương".

*Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ " Thái Bình Dương" đối với Hoa Kỳ.

Vào ngày 10.11,bà Hilary Clinton đã tuyên bố ở Honolulu  rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ 'Thái Bình Dương' đối với Hoa Kỳ.THeo bà,chiến cuộc Irak đã tàn,nỗ lực chuyển quyền ở Afghanistan đã bắt đầu,Hoa Kỳ có thể bắt đầu hướng tầm nhìn sang một nơi khác,Á Châu Thái Bình Dương,nơi có một nền kinh tế tăng trưởng mạnh và có những vận hội cho tương lai.Hoa Kỳ sẽ có những nỗ lực để thúc đẩy thoả hiệp đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP),một thoả hiệp không phải chỉ để thúc đẩy sự phát triển hơn mà còn là sự phát triển tốt nhất.Chuyến công du 9 ngày của ông Obama như thế đã ở trong khuôn khổ vận động ngoại giao của Hoa Kỳ nhắm vào Thái Bình Dương.

Trước đây,Mỹ châu là 'Tân thế giớĩ đối với Âu và Á Châu thì ngày nay,Thái Bình Dương là 'tân thế giới' đối với Hoa Kỳ,một vùng có sức phát triển mạng,vẫn còn nhiều tiềm năng kinh tế về tài nguyên thiên nhiên và nhân lực.Nỗ lực của Hoa Kỳ sẽ nhắm vào ngoại giao,kinh tế và chiến lược

-Về ngoại giao: bằng các tăng cường quan hệ với các nước đang trỗi dậy (Trung Hoa,Ấn Độ,Nam Dương,Ba Tây,Mễ..),dính líu vào các định chế vùng như ASEAN,APEC,EAS,thúc đẩy dân chủ và nhân quyền..

-Về kinh tế  :phát triển thương mại và đầu tư

-Về chiến lược : hợp tác quân sự  song phương,mở rộng và tăng cường sự hiện diện trong vùng

Trong nỗ lực này,Hoa Kỳ có được sự hậu thuẫn của một số nước trong vùng như Úc Tân Tây Lan với minh ước ANZUS ,một số nước có tranh chấp với Trung Hoa về chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải?Ngoài ra,có thể kể cả Ấn Độ vì cũng là một quốc gia đang trỗi dậy có những cạnh tranh với Trung Hoa. .

Trong các nỗ lực ngoại giao,kinh tế và chiến lược này của Hoa Kỳ,họ gặp phải một đối thủ đáng nể:Trung Hoa.Trung Hoa cũng đang có những phát triển về quân sự,là nước có tiềm năng kinh tế mạnh vằ về ngoại giao,Trung Hoa cũng đang ve vãn các nước trong vùng qua các hình thức hợp tác thương mại và đầu tư.Trước một tuyến Ấn Độ,Úc,Nam Dương,Nhật,Đại Hàn,Mỹ, việc có cảm giác bị bao vây ngăn chặn ở Thái Bình Dương là điều phải đến với Trung Hoa.Hơn thế,thoả hiệp 'tipipi' (đối tác xuyên Thái Bình Dương) sẽ làm suy yếu Trung Hoa về phát triển kinh tế!

Vũ khí xử dụng của Hoa Kỳ nhằm bao vây ngăn chặn Trung Hoa là 'tipipi' (TPP) viết tắt của (Transpacific Partnership.)Trong khi Âu Châu đang lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế,Hoa Kỳ đã hướng mối quan tâm của họ về Á Châu Thái Bình Dương,nơi trở thành trọng tâm của thế giới.Hoa Kỳ muốn tiếp tục duy trì quyền lãnh đạo thế giới của họ và bằng 'Tipipi',một thoả hiệp thương mãi giữa chín nước Thái Bình Dương gồm Úc,Tân Tây Lan,Tân Gia Ba,Mã Lai,Việt Nam,Nhật,Chili,Pérou và Mỹ.,một vùng chiếm 33% PIB của thế giới.Từ đó,có thể nói một cuộc chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa đã khởi diễn,cuộc chiến tranh dành ảnh hưởng.Đối với Hoa Kỳ,có được ảnh hưởng trong vùng là điều hết sức quan trọng ,như ông Obama đã phát biểu trong bài diễn văn tại hội nghị APEC ở Honolulu:"Vùng Á Châu Thái Bình Dương là tuyệt đối thiết yếu cho việc phát triển kinh tế của Mỹ.Chúng tôi coi đây là một ưu tiên tuyệt đối.Chúng ta không thể chiến đấu chống thất nghiệp và phát triển kinh tế của chúng ta mà không thành công trong dự án phát triển Á Châu Thái Bình Dương".Và ông Obama đã bỏ ra nhiều thời giờ để thuyết phục các nước đối tác đang còn do dự.Theo như bình luận của Simon Tay,chủ tịch trung tâm nghiên cứu ngoại giao của Tân Gia Ba, 'tipipi' sẽ trở thành,nếu không muốn nói đã trở thành,một yếu tố then chốt cho thế giới vào giai đoạn kinh tế đang'rầu rĩ' này. TPP đã trở thành một thứ GATT cho Á Châu Thái Binh Dương,làm trỗi dậy một vùng tự do giao-hoán với việc bãi bỏ hàng rào quan thuế từ đây cho tới 2015,khuyến khích việc xử dụng và buôn bán các sản phẩm 'tới điểm' (produit à point),bảo đảm tính trong suốt và không phân biệt đối xử trong thị trường công,thúc đẩy các quốc gia thành viên tôn trọng các qui định trong việc bảo vệ lao động,bảo vệ môi sinh,tôn trọng các tiêu chuẩn bảo vệ người lao động..Nếu trong lãnh vực kỹ nghệ,các nước tiền tiến có nhiều thuận lợi,trong lãnh vực nông nghiệp các nước này bị các nước chậm phát triển cạnh tranh dữ dội vìlương bổng nhân cấp,sản phẩm nông nghiệp có giá thành không cạnh tranh nổi!

Nhưng điểm chính của TPP (tipipi) là nhằm chống lại Trung Hoa: cũng là quốc gia Á Châu Thái Bình Dương,Trung Hoa đã không được mời tham dự!Nhưng cố vấn cho tổng thống Mỹ,Mike Froman,đã cho biết 'TPP không phải là cái gì đó mà người ta phải mời.Dù là nước Trung Hoa hay nước khác,chính họ phải quyết định tham dự nếu họ sẵn sàng tuân theo các tiêu chuẩn cao đòi hỏi'.Đối phó với TPP,Trung Hoa chỉ còn cách củng cố mối quan hệ thương mãi của họ với các nước thuộc khối đông-á và đông nam-á,nhưng không khỏi lo lắng việc Mỹ can thiệp vào nội bộ Trung Hoa qua việc can thiệp vào việc tự do lưu thông ở vùng biển Nam Hải và Đông Hải. Cho tới nay,Trung Hoa vẫn giữ được sự bình tĩnh trước tình trạng có thể gọi là 'bao vây ngăn chặn' đối với Trung Hoa,một hình thức chiến tranh lạnh.Nhưng phải nói là trong hội nghị APEC vàhội nghị thượng đỉnh Đông Á,và ASEAN,tổng thống Mỹ Obama không ngừng 'hâm nóng' Trung Hoa.

Ngoài TPP,một vũ khí kinh tế,ông Obama đã đạt tới những thoả hiệp hợp tác quân sự với Úc.Thêm 250 quân Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ sẽ đồn trú ở Úc.Vấn đề là không phải chỉ có quân mà còn là vũ khí.Số lượng vũ khí tồn trữ ở đây có thể vượt xa ngoài nhu cầu của số quân đồn trú,nói khác đi sẽ la kho vũ khí dự trữ của Mỹ ở Nam Thái Bình Dương đề phòng khi hữu sựVà tổng thống Mỹ Obama đã nói rõ ràng là nước Mỹ muốn thắt chặt hợp tác quân sự với Úc.Nhưng để làm bớt căng thẳng,ông Obama đã chối bai bải việc muốn chống lại Trung Hoa "Ý tưởng cho rằng chúng tôi e ngại Trung Quốc là một điều sai lầm.Ý tưởng cho rằng chúng tôi tìm cách loại Trung Quốc là một điều sai lầm".Cần xét xem các lời nói có đi đôi với hành động.

Năm 2009,ông Obama đã làm một chuyến công du Á Châu qua các nước Trung Hoa Ấn Độ,Đại Hàn,Nhật,Nam Dương,Tân Gia Ba.Lúc đó,ông tự hào là 'tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên gốc Thái Bình Dương'.Cùng với ông,tầm quan trọng của Thái Bình Dương gia tăng và như lời tuyên bố của bà Hilary Clinton "thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ".Trong chuyến công du 9 ngày của tháng11/2011,ông Obama không ghé sang thăm Trung Quốc,nhưng trong cuộc gặp gỡ với chủ tịch Trung Hoa Hu Jintao,ông Obama đã 'hâm nóng' ông này với các luận điệu nước Trung Hoa phải cư xử như 'người lớn' và 'tôn trọng các qui tắc' của thương mãi quốc tế!Ông Obama cũng nói các  nhà doanh nghiệp Mỹ rất bực tức vì thái độ của Trung Hoa và đòi hỏi phải điều chỉnh lại tỉ hối của đồng yuan mặc dù đã có ít nhiều cải thiện. Mặc dù rất ôn hoà,ông Hu Jintao đã không có một chút nhượng bộ nào,nói rằng dù cho có điều chỉnh lại tỉ hối của đồng yuan,điều này cũng không giúp cải thiện kinh tế của Mỹ.Nhưng,ông Obama vẫn có thái độ 'hâm nóng' ông Hu Jintao khi nói rằng ông đã cho chủ tịch Trung Hoa một bài học và đe dọa có những hành động trừng phạt đối với Trung Hoa nếu nước này tiếp tục từ chối việc chơi đúng luật lệ!

Theo tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ,thế Kỷ XXI là thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ đã cho thấy Mỹ không phải chỉ trở lại Thái Bình Dương vì muốn trở thành thành luỹ ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của Trung Hoa ở đây.Mỹ không ngoảnh mặt với Afghanistan,Irak hay  khối Ả Rập vì không còn có những đe dọa ở những nơi này ngược lại,sự đe dọa ở những nơi này hãy còn đó và có nguy cơ mở rộng.Trước hết,Mỹ trở lại Thái Bình Dương vì quyền lợi của Mỹ như chính ông Obama đã nói :"Vùng Á Châu Thái Bình Dương là tuyệt đối thiết yếu cho việc phát triển kinh tế của Mỹ.Chúng tôi coi đây là một ưu tiên tuyệt đối.Chúng ta không thể chiến đấu chống thất nghiệp và phát triển kinh tế của chúng ta mà không thành công trong dự án phát triển Á Châu Thái Bình Dương".Ưu thế của Mỹ là chính các quốc gia trong vùng Đông Á cũng cần đến tipipi (TPP) như là một đối-lực với Trung Hoa,như nhận định của Nicolas Consonery,phân tích gia của Eurasia,

Cuộc đấu trí giữa Trung Hoa và Mỹ dù  đang ở điểm khởi đầu nhưng không phải là không quan trọng.Thái độ 'kẻ cả' của Obama như việc không đồng ý để các nước tham dự chụp hình kỷ niệm với y phục ở Hạ Uy Di,việc nói đã cho chủ tịch Trung Hoa một bài học,việc coi Madvedev như 'ngưởi xách bidon cho Poutine,không phải cho thấy ông Obama thiếu ngoại giao,nhưng mà là theo đuổi một đường lối ngoại giao khiêu khích.Trong trận đấu trí này,ai mất bình tĩnh trước có nhiều cơ may thua cuộc.

Nhữ Đình Hùng/tin tổng hợp và bình luận/05.12.2011

tham khảo:

http://www.solidariteetprogres.org/Obama-dans-le-Pacifique-un-missile-balistique-lance-contre-la-Chine-et-la_08275   

http://www.lexpressiondz.com/internationale/142672-un-vaste-empire-commercial-se-met-en-place.html

http://www.lemonde.fr/economie/article/2011/11/14/bras-de-fer-entre-washington-et-pekin-autour-du-yuan_1603198_3234.html

http://www.20minutes.fr/ledirect/825018/etats-unis-vont-maintenir-presence-militaire-asie-pacifique

http://www.lepoint.fr/monde/obama-les-etats-unis-sont-une-puissance-du-pacifique-et-nous-sommes-la-pour-rester-17-11-2011-1397139_24.php

http://www.lesechos.fr/economie-politique/monde/actu/0201747049419-barack-obama-en-australie-et-les-rivalites-avec-la-chine-250323.php

http://www.marianne2.fr/Guerre-economique-le-Tipipi-inquiete-Pekin_a212560.html

 

 

 

Đến lượt Trung Quốc phải xoay chiều?

Minxin Pei (*)
Trúc An dịch
28-11-2011
Mỹ đã phục kích và cô lập Trung Quốc tại hội nghị Đông Á. Nếu Trung Quốc muốn hồi phục, nước này cần phải thành công trong cuộc cạnh tranh với Mỹ – và không dọa nạt các nước láng giềng.
Nếu năm 2010 là năm mà Trung Quốc thực hiện một loạt các động thái chiến lược và chiến thuật để củng cố vị thế của nước này ở Đông Á thì năm 2011 chứng kiến cả khu vực phản ứng lại.
Không ai biết rõ điều đó hơn Bắc kinh. Tại một hội nghị thượng đỉnh Đông Á kết thúc mới đây ở Bali, Indonesia, Trung Quốc bị Mỹ phục kích theo đúng nghĩa đen, khi phối hợp một cú đẩy lùi khéo léo chống lại các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Ngoại trừ Myanmar và Campuchia, tất cả các nước khác tham gia hội nghị, trong đó có Nga, đều chỉ trích thái độ của Trung Quốc về Biển Đông và kêu gọi một giải pháp đa phương, điều mà Trung Quốc luôn phản đối.
Tin xấu cho Bắc Kinh thực chất đã có từ trước Hội nghị Bali. Mỹ và Úc thông báo một thỏa thuận nhằm mở một căn cứ lính thủy đánh bộ Mỹ mới ở Darwin, trong một động thái rõ ràng là nhằm phát tín hiệu tới Trung Quốc rằng, bất chấp những khó khăn về ngân sách, Washington có thể tăng gấp đôi sự hiện diện quân sự của mình trong khu vực.
Tiếp đó, như thể để chứng tỏ cho Trung Quốc thấy rằng Mỹ vẫn còn thêm vài quân bài nữa để chơi, chính quyền Obama thông báo rằng Ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ sớm thực hiện một chuyến thăm lịch sử tới Myanmar để cổ súy hội đồng quân sự nước này tiếp tục tiến trình khi họ đang thực hiện những bước thăm dò nhưng đầy hứa hẹn, hướng tới một sự chuyển đổi sang dân chủ. Nếu quan hệ nối lại giữa Mỹ và Myanmar đơm hoa kết trái, Myanmar có thể thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc.
Tóm lại, ba diễn biến nói trên đã đưa Mỹ trở lại vị trí cầm lái ở Đông Á, trong khi Trung Quốc rõ ràng phải chịu bước lùi chiến lược nghiêm trọng nhất trong khu vực, trong nhiều năm. Tất nhiên, một số người ở Bắc Kinh có thể muốn chống lại việc tái xác nhận quyền lực của Mỹ ở Đông Á, nhưng bất cứ hành động nào theo hướng đó chắc chắn sẽ leo thang căng thẳng với Washington, càng làm cho Trung Quốc bị cô lập hơn. 
Một cách tiếp cận nhạy cảm hơn đối với Trung Quốc là phải thay đổi triệt để tư duy của nước này về an ninh Đông Á và có những bước đi vững chắc nhằm giành lại thế chủ động về ngoại giao. Trung Quốc cần bắt đầu bằng một đánh giá tổng quan về các mối quan hệ Trung – Mỹ. Rõ ràng, vận may địa chính trị hiếm hoi mà Trung Quốc có được ở Đông Á kể từ sau vụ 11/9 nay đã tan biến và quyết tâm của Mỹ trong việc giữ Đông Á là một trong những ưu tiên chiến lược hàng đầu của nước này, chắc chắn làm cho Trung Quốc vô cùng bực bội.
Tuy vậy, nhìn nhận những động thái gần đây của Washington, cùng hệ quả của chúng, như những bước đi kiên quyết hướng tới “kiềm chế” Trung Quốc sẽ là một sự thổi phồng quá mức tầm quan trọng của chúng, chỉ ra quá nhiều sự thù hận trong các ý định của Mỹ, và bỏ qua hành động cân bằng thận trọng của chính quyền Obama. (Các lãnh đạo Trung Quốc nên nhớ rằng Barack Obama đã nhắc lại, tại Hội nghị Đông Á, chính sách ràng buộc với Trung Quốc của Mỹ).
Đường lối trung hòa giữa một quan hệ đối tác Trung – Mỹ và cuộc xung đột công khai giữa hai nước là một cuộc cạnh tranh Trung – Mỹ được kiểm soát. Không thể phủ nhận rằng, trừ khi chế độ độc đảng của Trung Quốc chuyển thành một nền dân chủ tự do, nếu không thì Mỹ và Trung Quốc sẽ không thể xây dựng được sự tin tưởng lẫn nhau. Nỗi sợ thường trực đối với dân chủ của Đảng Cộng sản Trung Quốc khiến cho họ nhìn nhận Mỹ như một mối nguy chính trị, trong khi sự cự tuyệt nền tảng của Mỹ đối với tính hợp pháp của chế độ độc tài có nghĩa là Washington sẽ coi chế độ độc đảng đầy quyền lực ở Trung Quốc là một mối đe dọa an ninh. Thiếu hụt lòng tin có thể khiến cho sự hợp tác khó khăn, nhưng không nhất thiết dẫn tới xung đột.
Vì vậy, khi uy thế của Trung Quốc và sự suy giảm tương đối của Mỹ tiếp diễn, hai cường quốc lớn này, mặc dù phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, sẽ vẫn tiếp tục tranh giành sự ảnh hưởng về địa chính trị. Kiểm soát được cuộc cạnh tranh ấy, chứ không phải chối bỏ nó, là một nhiệm vụ thách thức nhất đối với cả Washington và Bắc Kinh trong thập niên tới đây.
Tất nhiên, kiểm soát cạnh tranh đòi hỏi cả hai nước phải nghĩ lại cách tiếp cận hiện thời của họ đối với nhau. Với Trung Quốc, điều này bao gồm việc từ bỏ chiến lược lâu năm “mua anh em xa, đánh láng giềng gần” của họ – hay yuanjiao jingong. Trong 4 thập niên vừa qua, kể từ chuyến thăm lịch sử của Richard Nixon tới Trung Quốc, chiến lược tổng quát của Bắc Kinh là xoay chính sách ngoại giao của nước này trên một mối quan hệ hợp tác và ổn định với Mỹ. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể nhất quán theo đuổi một chiến lược khu vực hữu ích và toàn diện để cho phép nước này thúc đẩy một mối quan hệ ổn định và hợp tác Trung – Mỹ trong việc tái thiết trật tự an ninh Đông Á. Sự khôn ngoan xưa nay của Bắc Kinh, nếu không phải mơ tưởng, là một mối quan hệ hữu hảo Trung – Mỹ sẽ mang lại cho Trung Quốc sức mạnh lớn hơn để đối phó với các nước láng giềng.
Lối tư duy đó bỏ qua là các nước láng giềng của Trung Quốc, sợ hãi một nước Trung Quốc đầy uy quyền không bị giới hạn bởi một nước cân bằng chiến lược ngoài khơi như Mỹ, [các nước láng giềng này] sẽ càng lo sợ Trung Quốc hơn khi Trung Quốc lớn mạnh, để rồi gần gũi hơn với Mỹ. Các mối quan hệ tốt đẹp Trung – Mỹ không mang lại bất kỳ một thuận lợi nào cho Trung Quốc trong việc kiểm soát các mối quan hệ bất ổn với các nước láng giềng. Chỉ có trường hợp duy nhất là thập niên qua, khi Trung Quốc đầu tư nhiều nỗ lực vào cải thiện quan hệ với ASEAN và Hàn Quốc. Và kết quả đã chứng minh rằng, Trung Quốc có các mối quan hệ tốt đẹp nhất với hầu hết các nước láng giềng trong khi quan hệ Trung – Mỹ cũng ổn định.
Những gì ví dụ này và những thất bại gần đây của Trung Quốc trong khu vực cho thấy, Trung Quốc phải định dạng lại chính sách ngoại giao của mình bằng cách tập trung vào các nước láng giềng và xoa dịu nỗi sợ hãi của họ. Không nhất thiết phải hạ cấp mối quan hệ với Mỹ, Trung Quốc vẫn có thể thay đổi đáng kể các động lực địa chính trị của Đông Ấ nếu nước này sửa đổi đại chiến lược lâu nay của mình và biến nó thành “đối xử tốt với các nước ở gần trước khi kết bạn với những nước ở xa”.
Sự điều chỉnh chiến lược này, trước tiên và trước nhất đòi hỏi Trung Quốc phải giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách chóng vánh. Những tranh chấp gay gắt đó đang gây phản đối từ Nhật, Việt Nam và Ấn Độ, và biến cho các nước này thành các đối tác của một liên minh tiềm ẩn chống Trung Quốc. Những tranh chấp tương tự cũng làm dấy lên lo ngại trong khu vực về các ý định tương lai của Trung Quốc và thúc đẩy ASEAN, một bên thứ 3 trung lập lâu nay, tham gia vào xung đột, đứng về phía Mỹ.
Một bước đi cốt yếu khác mà Trung Quốc cần thực hiện nhanh chóng là đóng vai trò tiên phong hơn nữa trong các vấn đề an ninh. Điều này có thể được hoàn thành bởi sự ràng buộc cấp cao hơn nữa và lâu dài hơn của quân đội Trung Quốc trong đối thoại an ninh khu vực, minh bạch hơn về quân sự, điều tiết chương trình hiện đại hóa quân sự, các trao đổi thường xuyên hơn nữa giữa quân đội Trung Quốc và các đối tác trong khu vực, và các sáng kiến thực nghiệm của khu vực nhằm duy trì an ninh chung (chẳng hạn như an ninh hàng hải và cứu trợ nhân đạo).
Những biện pháp bảo đảm chiến lược như vậy có thể không xóa tan lo sợ của Đông Á về Trung Quốc trong chốc lát, nhưng chúng sẽ tiến một quãng đường dài hướng tới việc chứng minh, thông qua hành động và cam kết, rằng Trung Quốc có một đại chiến lược mới ràng buộc chặt chẽ an ninh Trung Quốc với an ninh của các nước láng giềng.
Còn về cuộc cạnh tranh chiến lược Trung – Mỹ, sự điều chỉnh của bắc Kinh về chiến lược khu vực, hòa bình, đa phương và có tính xây dựng, sẽ không thể làm khốc liệt thêm sự ganh đua cấu trúc của nước này với Washington. Thay vào đó, vì Mỹ cũng là một cường quốc Thái Bình Dương, chiến lược châu Á mới của Trung Quốc sẽ làm giảm các điểm va chạm tiềm ẩn với Mỹ và tạo ra một số điểm đa phương mà Trung Quốc và Mỹ có thể quản lý cuộc cạnh tranh của họ một cách hiệu quả hơn.
Tất nhiên, liệu chế độ độc đảng nổi tiếng đa nghi chính trị có thể đạt được một kỳ công về sự khéo léo và tinh vi chiến lược như thế, còn là sự suy đoán của một người nào đó. Để chứng minh cho những người hoài nghi thấy rằng họ sai sẽ tùy thuộc vào Trung Quốc.
NguồnThe Diplomat
(*) Tác giả: Ông Minxin Pei là giáo sư môn chính phủ học tại trường Claremont McKenna College. Các bài nghiên cứu của ông được đăng trên các tạp chí Foreign Policy, Foreign Affairs, The National Interest, Modern China, China Quarterly, Journal of Democracy cùng nhiều ấn bản khác. Các bài viết của ông cũng được đăng trên báo Financial Times, New York Times, Washington Post, Newsweek International, International Herald Tribune cùng nhiều tờ báo lớn khác.


 

Is it China’s Turn to Pivot?

November 28, 2011
The U.S. ambushed and isolated China at the East Asia summit. If China wants to recover it needs to manage its competition with the United States – and not scare its neighbors.
If 2010 was the year China made a series of strategic and tactical moves to strengthen its position in East Asia, 2011 saw the region push back.   
Nobody knows this better than Beijing.  At the recently concluded East Asia Summit in Bali, Indonesia, China was literally ambushed by the United States, which skillfully coordinated a pushback against China’s assertiveness on the South China Sea.  Except for Burma and Cambodia, every other country present at the summit, including Russia, implicitly criticized China’s stance on the South China Sea and called for a multilateral solution, which China has consistently opposed.
The bad news for Beijing actually preceded the Bali summit.  The United States and Australia announced an agreement to open a new U.S. Marine base in Darwin, in a move clearly intended to signal to China that, despite its budgetary woes, Washington would double down on its military presence in the region. 
Then, as if to show China that it has a few more cards to play, the Obama administration announced that Secretary of State Hillary Clinton would soon be paying a historic visit to Burma to encourage its military junta, which is taking tentative but promising steps toward a transition to democracy, to continue the course.  Should the U.S.-Burma rapprochement bear fruit, Burma could be freed from China’s orbit.
Taken together, these three developments have put the United States back into the driver’s seat in East Asia, while China has clearly suffered the most serious strategic setback in the region in years. Some in Beijing may naturally want to push back against the United States’ reassertion of its power in East Asia.  But any steps in that direction will certainly escalate tensions with Washington while leaving China further isolated.
A more sensible approach is for China to fundamentally alter its thinking on East Asian security and take concrete steps to regain its diplomatic initiative. China should start with an overall reassessment of U.S.-China relations.  Obviously, the rare geopolitical fortune China has enjoyed in East Asia since 9/11 is goneand America’s resolve to keep East Asia as one of its top strategic priorities is bound to give China a great deal of discomfort.  However, equating recent moves by Washington, consequential as they are, as decisive steps toward “containing” China would be exaggerating their importance, reading too much animosity into U.S. intentions, and ignoring the Obama administration’s careful balancing act. (Chinese leaders should note that Barack Obama reiterated, at the East Asia Summit, the U.S. policy of engagement with China.)
The middle course between a U.S.-China partnership and outright U.S.-China conflict is a managed U.S.-China competition.  There’s no denying that, unless China’s one-party regime becomes a liberal democracy, the United States and China won’t be able to build mutual trust.  The Chinese Communist Party’s existential fear of democracy makes it view the U.S. as a political threat, while America’s fundamental rejection of the legitimacy of authoritarian rule means that Washington will regard a powerful one-party regime in China as a security threat.  The lack of trust may make cooperation difficult, but doesn’t necessarily lead to conflict.
So, as China’s ascendance and America’s relative decline continue, these two great powers, though economically interdependent, will continue to compete for geopolitical influence.   Managing this competition, rather than denying it, is the most challenging task for both Washington and Beijing in the coming decade.
Of course, managing competition requires both countries to rethink their current approach to each other.  For China, this involves abandoning its long-held strategy of “befriending afar and attacking near” – oryuanjiao jingong.  In the past four decades since Richard Nixon’s historic visit to China, Beijing’s grand strategy has been to pivot its foreign policy, correctly, on a stable and cooperative relationship with the United States.  But Chinese leaders haven’t been able consistently to follow a complementary and productive regional strategy that would allow China to leverage a stable and cooperative U.S.-China relationship in reconstructing East Asia’s security order.  Beijing’s conventional wisdom, if not wishful thinking, has been that a good U.S.-China relationship will give China greater leverage in dealing with its neighbors What such thinking ignores is that Chinese neighbors, out of fear of a powerful China unconstrained by an offshore strategic balancer such as the United States, will only grow more afraid of China as it rises, and move closer to the United States.  Good U.S.-China relations rarely confer any real advantage to China in managing its contentious ties with its neighbors.  The only possible exception was the last decade, when China invested enormous efforts in improving ties with the ASEAN and South Korea.  And the results speak for themselves – China had the best relations with most of its neighbors while U.S.-China relations were stable as well.
What this example illustrates – and China’s recent setback in the region shows – is that China must re-pivot its foreign policy by focusing on its neighbors and calming their fears.  Without necessarily downgrading its relationship with the United States, China can alter East Asia’s geopolitical dynamics significantly if it modifies its long-standing grand strategy and make it “befriend near before befriending afar.” 
This strategic adjustment requires, first and foremost, that China resolve its territorial disputes expeditiously.  These festering disputes are antagonizing Japan, Vietnam and India and making them eager partners of a potential anti-China coalition.  The same disputes also raise regional fears about China’s future intentions and have motivated ASEAN, a longtime neutral third party, to join the fray on the side of the United States.
Another crucial step China needs to take quickly is to become more proactive on security issues.  This can be accomplished by more high-level and more substantive engagement by the Chinese military in regional security dialogue, greater military transparency, moderation in its military modernization program, more frequent exchanges between the Chinese military and its counterparts in the region, and experimental regional initiatives to maintain collective security (such as maritime security and humanitarian relief). 
Such measures of strategic reassurance may not dispel East Asia’s fears of China overnight, but they will go a long way toward demonstrating, through action and commitments, that China has a new grand strategy that ties China’s security inseparably with that of its neighbors.
As for the U.S.-China strategic competition, Beijing’s adjustment in its regional strategy, peaceful, multilateral, and constructive, will unlikely intensify its structural rivalry with Washington.  Instead, as the United States is also a Pacific power, China’s new Asian strategy will reduce potential points of friction with the United States and create several multilateral venues where China and the United States can manage their competition more effectively.
Of course, whether a one party regime known for its political paranoia can pull off a feat of such strategic dexterity and sophistication is anybody’s guess.  It’s up to Beijing to prove its skeptics wrong.


Minxin Pei (*), Trúc An
Theo: The Diplomat
Lên đầu trang