Biên Khảo

Trần Đông Phong : TT Ngô Ðình Diệm từ chối sự không chịu vào tạm trú trong toà đại sứ Mỹ

Thêm vào danh sách yêu thíchPhản hồi thông tinBản inĐăng tải ngày: 01/12/2011
Trần Đông Phong : TT Ngô Ðình Diệm từ chối sự không chịu vào tạm trú trong toà đại sứ Mỹ

Những tin tức liên quan đến vai trò của người Mỹ trong cuộc đảo chánh đưa đến cái chết của Tổng Thống VNCH Ngô Ðình Diệm vào ngày 2 tháng 11 năm 1963 càng ngày càng được tiết lộ thêm qua các tài liệu được giải mật, tuy nhiên có một tài liệu rất ít người biết đến, đó là việc Tổng Thống Hoa Kỳ Kennedy đã bí mật gửi một người bạn rất thân là Dân biểu Torbert Macdonald sang gặp TT Ngô Ðình Diệm


TT Ngô Ðình Diệm từ chối sự không chịu vào tạm trú trong toà đại sứ Mỹ

Trần Đông Phong

Những tin tức liên quan đến vai trò của người Mỹ trong cuộc đảo chánh đưa đến cái chết của Tổng Thống VNCH Ngô Ðình Diệm vào ngày 2 tháng 11 năm 1963 càng ngày càng được tiết lộ thêm qua các tài liệu được giải mật, tuy nhiên có một tài liệu rất ít người biết đến, đó là việc Tổng Thống Hoa Kỳ Kennedy đã bí mật gửi một người bạn rất thân là Dân biểu Torbert Macdonald sang gặp TT Ngô Ðình Diệm vào tháng 10 năm 1963.
Trong một cuốn sách nhan đề “The Dark Side of Camelot” (Mặt trái của TT Kennedy) xuất bản vào năm 1997, nhà báo Seymour M. Hersh đã tiết lộ nhiều chi tiết về TT Kennedy và Việt Nam, đặc biệt là những tin tức liên quan đến đến quan điểm của Kennedy và các cố vấn thân cận của ông đối với Miền Nam Việt Nam cũng như là đối với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu.
Seymour M. Hersh là một trong những ký giả chuyên về điều tra hàng đầu (premier investigative reporters) của Hoa Kỳ. Năm 1969, ông là người đầu tiên viết về vụ thảm sát Mỹ Lai, trong thập niên 1970 ông làm việc cho nhật báo New York Times và đã được hàng chục giải thưởợng về báo chí rất quan trọng, trong đó có Giải Pulitzer năm 1970 về tường trình quốc tế (International Reporting). Ông là tác giả sáu cuốn sách nổi tiếng trong đó có cuốn “The Price of Power: Kissinger in the Nixon White House” đã được giải National Book Critics Circle Award và Los Angeles Times Book Award.
 
Trong phần giới thiệu cuốn sách The Dark Side of Camelot, nhà xuất bản Little, Brown and Company nói rằng:
“Tác giả Seymour Hersh trình bày cho chúng ta thấy một John F. Kennedy mà chúng ta chưa hề biết đếnà Kennedy chỉ tin cậy những người trong dòng họ Kennedy. Jack chỉ định em trai là Robert Kennedy giữ gìn những bí mật của gia đình: món nợ đối với băng đảng tội ác (Mafia), thực trạng về sức khoẻ của TT Kennedy, nguồn gốc của sự thắng cử của Kennedy, những âm mưu thanh toán các vị lãnh đạo ngoại quốc và nhất là chủ trương của TT Kennedy đối với vấn đề Việt Nam.”
 
Trong lời nói đầu của tác giả, Seymour Hersh nói rằng:
Ðây không phải là một cuốn sách viết về những giai đoạn đầy hào quang, những chính sách vinh quang của John Kennedy. Ðây cũng không phải là cuốn sách viết về cái thời gian đầy bi thảm sau cái chết của ông và nguyên nhân tại sao ông đã bị giết chết.
Những chính sách của Kennedy và cuộc đời của ông đã có nhiều giai đoạn tuyệt vời. Sau khi từ trần, hào quang và sự khôn ngoan của ông được phối hợp thêm với những sự thành công trên lãnh vực đối ngoại cũng như là lãnh vực đối nội–thật sự cũng có mà tưởng tượng ra cũng có- để tạo ra những huyền thoại cho Camelot (TT Kennedy).
Nhưng mà cũng có một mặt trái của Camelot, và của Kennedy.”
 
Nhận thấy trong cuốn sách này, tác giả Seymour M. Hersh có đưa ra nhiều chi tiết về Tổng Thống John F. Kennedy, nhất là một số chi tiết liên quan đến chính sách về Việt Nam của ông, có liên quan đến cuộc đảo chánh 1-11-1963 và cái chết bi thảm của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cùng với bào đệ là ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu mà đa số người Việt Nam chưa hề được biết đến, người viết xin tóm lược lại Chương thứ 23 trong cuốn sách để cho người đọc có thêm một vài khái niệm về giai đoạn lịch sử này.
 
Người viết cũng xin minh xác rằng những tài liệu trong cuốn sách The Dark Side of Camelot không phải là những tài liệu mật, cũng không phải là những tài liệu chính thức mới được giải mật, đó chỉ là những tài liệu do tác giả Seymour Hersh sưu tầm qua những cuộc phỏng vấn những nhân vật có nêu rõ tên tuổi, do đó có thể được xem là có thể tin được. Bằng chứng cho thấy là S. Hersh tiết lộ nhiều điều chẳng mấy tốt đẹp gì về đời tư của Tổng Thống Kennedy, tuy nhiên sau khi cuốn sách này được xuất bản vào năm 1997, tác giả cũng như là nhà xuất bản không hề bị gia đình Kennedy đưa ra toà về tội phỉ báng hay mạ lỵ. Ngược lại, có những lời đồn đại nói rằng cuốn sách này sở dĩ bán chạy cho đến nỗi chỉ vài tháng sau khi phát hành, cuốn sách đã hoàn toàn bị biến mất trên thị trường, đó là vì gia đình Kennedy đã bỏ tiền ra mua hết.
 
Người viết xin lưu ý độc giả rằng những tài liệu do S. Hersh đưa ra hoàn toàn do tác giả sưu tầm và người đọc cần phải suy luận trước khi đánh giá những tài liệu này.
 
Phe Kennedy gian lận bầu cử năm 1960
Ngoài chương thứ 23 nói về Việt Nam, trong những chương khác S. Hersh Nhận có đưa ra một số chi tiết về sự thành công của Kennedy trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960 và nhất là những liên hệ tình dục quá phóng túng của Kennedy trong giai đoạn trước ngày ông bị ám sát mà đa số người Việt Nam chúng ta chưa hề được biết, người viết xin tóm trích lại một vài chi tiết mà Seymour Hersh đã tiết lộ về những chuyện này.
 
Trong Mặt Trái của Camelot, Seymour Hersh đã viết những điều ít người hay biết về gia đình Tổng Thống Kennedy, nhất là liên hệ giữa thân phụ của ông với băng đảng tội ác Mafia.

Hersh cho biết thân phụ của Kennedy là Joseph Kennedy đã cộng tác với Mafia để hành nghề buôn rượu lậu dưới thời Prohibition (Cấm bán rượu) vào thập niên 1920-1930 do đó mà trở nên vô cùng giàu có. Nhờ sự liên hệ này với Mafia mà sau này, khi con trai là John F. Kennedy ra ứng cử tổng thống vào năm 1960, Joseph Kennedy đã đi đêm với Sam Giancana, bố già Mafia trong vùng Chicago để y bảo đảm cho đàn em, tay chân bộ hạ trong băng đảng Mafia đi “vận động” bắt buộc những người có chân trong những nghiệp đoàn do Mafia kiểm soát (mob-controlled unions) ở Chicago và những tiểu bang phụ cận bỏ phiếu cho Kennedy, đồng thời ra lệnh cho nghiệp đoàn mang tiếng là thối nát Teamters Union dùng tiền quỹ hưu trí của đoàn viên để đóng góp vào quỹ vận động tranh cử tổng thống của Kennedy. Hersh cũng cho biết rằng “một vài tháng sau cuộc bầu cử, có nhiều tin đồn về sự gian lận bỏ phiếu (vote fraud) tại tiểu bang Illinois đã được trình lên cho Bộ Tư Pháp do chính Bobby Kennedy làm bộ trưởng -nhưng không hề được sự đáp ứng nào. Cuộc bầu cử tổng thống năm 1960 đã bị đánh cắp (stolen).”
 
Trong một cuốn hồi ký mang tên là My Story của Judith Campbell Exner xuất bản vào năm 1967, người tình cũ của cả Kennedy và Giancana vào đầu thập niên 1960 này cho biết rằng ông trùm Mafia có nói với bà như sau: “Này cưng ơi, nếu không có tôi thì người bạn trai của em đã không được ngồi trong Toà Bạch Ốc đâu!” (Listen, honey, if it wasn’t for me, your boyfriend wouldn’t even be in the White House).
 
Theo tác giả Seymour Hersh thì em trai của TT Kennedy cũng biết rất rõ về chuyện này: “Như Bobby Kennedy cũng biết, TT Kennedy và Sam Giancana không những có chia sẻ với nhau về việc gian lận bầu cử và âm mưu ám sát (Fidel Castro), cả hai người này cũng còn chia sẻ một mối tình thân thiết với một người phụ nữ ly dị chồng và cũng là một nghệ sĩ xinh đẹp và nổi tiếng tên làJudith Campbell Exner tại thành phố Los Angeles. Những cuộc phỏng vấn sau này cho biết Judith Exner đã gặp Kennedy lần đầu tiên vào đầu năm 1960 qua sự giới thiệu của tài tử Frank Sinatra, cũng là tình nhân của Judith, và cô ta không những chỉ là người tình (sex partner) của tổng thống mà còn đóng vai trung gian chuyển tài liệu của TT Kennedy và Bobby Kennedy cho Giancana và đồng nghiệp Mafia của hắn, còn chuyển cả mấy cái túi đầy tiền mặt nữa. Martin U. Underwood, một nhân viên tiền đạo của Bạch Cung cho biết vào năm 1966 rằng ông ta được lệnh theo dõi Judith Exner đi bằng xe lưả từ Los Angeles đến Chicago và khi chuyến tàu này đến Chicago thì ông ta chứng kiến Judith Exner đã giao một cái túi cho người của Giancana dang đứng đợi tại sân ga. Trong nhiều cuộc phỏng vấn về sau cho cuốn sách này, Exner đã thú nhận với tác giả rằng cô ta đã chuyển giao tiền bạc, rất nhiều tiền, của các nhà doanh nghiệp tại California có đấu thầu với chính phủ liên bang cho TT Kennedy.”
 
Hersh cũng cho biết rằng đảng Cộng Hoà đã tố cáo Richard Daley, thị trưởng Chicago thuộc đảng Dân Chủ, đã gian lận giúp cho Kennedy thắng Richard Nixon chỉ có 9,400 phiếu, nhờ đó Kennedy thắng 27 phiếu cử tri đoàn của tiểu bang Illinois và đắc cử tổng thống Hoa Kỳ. Hersh nhắc đến chuyện vào đêm thứ ba sau khi phòng phiếu vưà đóng cưả, Thị trưởng Chicago Daly đã gọi điện thoại cho ứng cử viên Kennedy nói rằng: “Thưa Tổng Thống, với một chút may mắn và sự giúp đỡ của “một ít người bạn thân” (a few close friends), ông sẽ thắng tiểu bang Illinois.”
 
Ngoài ra, đảng Cộng Hoà cũng tố cáo đảng Dân Chủ đã gian lận bầu cử trong 11 tiểu bang tuy nhiên ứng cử viên Richard Nixon của đảng Cộng Hoà không chấp thuận đề nghị “đếm phiếu lại” (recount) tại những tiểu bang này và nhất là vùng Chicago vì ông biết rằng có đếm lại cũng chẳng đi đến đâu vì đảng Dân Chủ nắm hết mọi guồng máy bầu cử trong những vùng này, do đó Kennedy trở thành vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ.
 
Kennedy ngày nào cũng phải có đàn bà
Ký giả Seymour Hersh cho biết rằng: “Em trai của TT Kennedy là Bộ Trưởng Tư Pháp Bobby Kennedy, cũng như là bao nhiêu người đàn ông và đàn bà khác phục vụ tại Bạch Cung đều biết rằng TT Kennedy đã công khai nói láo khi ông vờ đóng vai một người chồng gương mẫu của Ðệ Nhất Phu Nhân Jacqueline Kennedy trong khi bên trong thì Kennedy đã sống một cuộc đời ăn chơi với những parties trác táng cho đến nỗi các vệ sĩ trong ngành Mật Vụ bảo vệ cho Tổng Thống tại Bạch Cung cũng phải rụng rời...”
 
Hersh cũng dành một chương, chương thứ 21, để nói về tật mê gái (womanizing) của Kennedy. Vào mùa thu năm 1963, khi một số nghị sĩ thuộc đảng Cộng Hoà mở cuộc điều tra về những bê bối về tham nhũng và tình dục (graft-and-sex scandal) tại Quốc Hội thì tình cờ họ được biết về sự mê gái qúa độ của Kenndedy và được biết Ellen Rometsch, một trong những người tình của Kennedy là một cựu đảng viên đảng Cộng sản Ðông Ðức.
 
Cuộc điều tra cho biết rằng Bobby Baker, tổng thư ký của nhóm Nghị sĩ Dân Chủ tại Thượng Viện là một nhân vật vô cùng quan trọng vì ông ta có nhiệm vụ làm tất cả những điều gì có thể được để giúp cho đảng Dân Chủ thắng trong các cuộc bỏ phiếu tại thượng viện, ông ta phải làm bất cứ điều gì mà các vị nghị sĩ Dân Chủ cần làm và dĩ nhiên là ông ta cũng kín đáo làm những điều gì mà các vị nghị sĩ muốn, kể cả vấn đề gái. Baker cho biết rằng trong thời gian Kennedy đang làm thượng nghị sĩ, ông ta cũng đã cung cấp gái gọi cho Kennedy.
 
Bobby Baker cho biết vào mùa xuân năm 1963, Bill Thompson, một phụ tá thân tín của Kennedy, hỏi ông ta về một người đàn bà: “Này Baker, người đàn xinh đẹp ấy là ai vậy? Cái cô trông giống như Elisabeth Taylor ấy mà!” Bobby trả lời rằng: “Cô ta là người Ðức, vợ của một viên trung sĩ phục vụ tại toà đại sứ Tây Ðức. Cô ta là một cô gái chuyên nghiệp và những ai đã từng là khách hàng của cô thì đều rất hài lòng.” Thompson hỏi tiếp: “Nếu tôi mời cô ta vào Bạch Cung thì liệu cô ta có muốn đi để gặp Tổng Thống Kennedy hay không?” Baker hỏi Ellen và Ellen trả lời rằng cô ta rất hoan hỷ và ông ta dàn xếp để Thompson đưa Ellen vào Bạch Cung. Sau lần đó, Ellen cho Baker biết rằng “Tổng Thống Kennedy là một người rất vui nhộn (fun) và cô ta rất thích thú được gần gũi ông ta.” Về sau Baker vào Bạch Cung thì Kennedy cho Baker biết rằng Ellen là người đàn bà đã làm cho ông ta thích thú nhất trong số những người mà ông ta đã gần gũi. Bobby Baker cho biết thêm rằng có một lần ông ta được mời vào Bạch Cung để gặp TT Kennedy nhưng ông tổng thống chẳng có nói năng gì về vấn đề Thượng Viện mà chỉ nói với ông: “Anh biết không, tôi cứ bị bệnh nhức đầu nếu tôi không có một người đàn bà lạ mỗi ngày (I get a migraine headache if I don’t get a strange piece of ass every day.)” Baker nói rằng ông ta đã dùng Ellen Rometsch để “chưã” bệnh nhức đầu cho Kennedy và Ellen cho biết thêm rằng cô ta đã dự những cuộc parties bên hồ tắm (pool parties) tại Bạch Cung và mọi người ai nấy cũng đều khoả thân chạy vòng vòng quanh hồ, thường thường thì chỉ có khoảng năm người khách đàn ông nhưng lại có đến 12 khách đàn bà. Baker cho biết vào mùa xuân và mùa hè năm 1963, Ellen Rometzsh đã đi vào Bạch Cung ít nhất là trên mười lần.
 
Chẳng may vào tháng 6 năm 1963, có một vụ tai tiếng xảy ra tại London liên quan đến việc Bộ Trưởng Quốc Phòng John Profumo có liên hệ về tình dục với một cô gái điếm hạng sang là Christine Keeler và cô này cũng đang là bồ của Yevgeny Ivanov, tùy viên Hải Quân của toà Ðại sứ Liên Xô. Báo chí Anh cũng khui thêm về vụ này: Profumo cũng có liên hệ tình dục với bốn cô gái điếm hạng sang khác, trong số đó có một cô người Tàu tên là Suzy Chang và một cô gái tóc vàng người Tiệp Khắc tên là Maria Novotny và hai cô này đã ghi âm những câu hỏi về chính sách nguyên tử của Anh Quốc do Ivanov đặt ra để hỏi Bộ trưởng Quốc Phòng Profumo trong những cuộc gặp gỡ cuối tuần. Profumo phải từ chức và đảng Bảo Thủ của Thủ Tướng Harrold Macmillan bị dân chúng Anh bất tín nhiệm trong cuộc bầu cử năm 1964.
 
Cuộc khủng hoảng chính trị về gái tại Anh lại có liên quan đến Hoa Kỳ vì hai cô Suzy Chang và Maria Novotny cũng còn hành nghề tại New York. Maria Novotny cho biết rằng cả Suzy Chang và cô đều có phục vụ cho John Kennedy trước và cả sau khi ông đắc cử tổng thống vào năm 1960. Có bằng chứng cho thấy rằng khi còn là nghị sĩ, ông Kennedy đã dẫn Suzy Chang đi ăn tối tại Câu lạc bộ 21, một tiệm ăn của câu lạc bộ nổi tiếng sang trọng và quý phái nhất tại New York. Chính Suzy Chang sau này cũng xác nhận chuyện cô ta đi ăn tối với Kennedy tại Club 21. Về phần Maria Novotny thì cô ta có viết một đoạn hồi ký trước khi từ trần tiết lộ rằng cô ta đã được tài tử Peter Lawford, anh rể cuả TT Kennedy môi giới để tham gia vào một cuộc làm tình tay ba một vài tuần trước khi Kennedy tuyên thệ nhậm chức: Kenndy đóng vai bệnh nhân còn Novotny và một cô gái điếm khác đóng vai bác sĩ và y tá.
 
Vào tháng 7, Tổng Giám Ðốc FBI Edgar Hoover báo cho Robert Kennedy biết rằng FBI được mật báo rằng Ellen Rometsch có những mối liên hệ bất chính (illicit relations) với những viên chức cao cấp của Hoa Kỳ. Hoover còn cho biết thêm rằng FBI nghi rằng Ellen Rometsch là người sinh trưởng tại Ðông Ðức, đã từng phục vụ cho Walter Ulbricht, lãnh tụ Cộng sản Ðông Ðức và cô ta cũng từng là đảng viên Cộng sản Ðức. Hoover cho biết rằng ngành Phản gián của FBI sẽ mở một cuộc điều tra về vấn đề Ellen Rometsch có thể là một gián điệp ngoại quốc vào mùa hè năm 1963.
 
Robert Kennedy, người được dòng họ Kennedy chỉ định giữ vai trò bảo vệ uy tín, tên tuổi và uy danh của cả gia đình cảm thấy rằng nếu vụỳ Ellen Rometsch nổ ra thì đó sẽ là một vụ Profumo của nước Mỹ, sẽ gây ra tai tiếng nghiêm trọng và TT Kennedy vì đó mà có thể thất cử trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 1964. Kennedy gửi văn thư cho FBI cám ơn Hoover đã dành sự kín đáo trong vụ Rometsch và ông ta cho biết Bộ Tư Pháp của ông ta sẽ giải quyết vấn đề này. Vào ngày 21 tháng 8 năm 1963, Ellen Rometsch bất thình lình bị trục xuất ra khỏi Hoa Kỳ theo đề nghị của Bộ Ngoại Giao. Rometsch được LaVern Duffy, một phụ tá thân cận của Robert Kennedy, hộ tống về Ðức trên một chuyến phi cơ đặc biệt của Không Lực Hoa Kỳ, tuy nhiên theo Bộ Ngoại giao thì không hề có một văn kiện chính thức nào lưu trữ tại đây về việc trục xuất này. Rolf Rometsch, chồng của Ellen cũng bị trục xuất về Ðức vài hôm sau đó và ông ta đã ly dị với Ellen với lý do là vợ của ông ta đã có những liên hệ với những người đàn ông khác.
 
Seymour Hersh cho biết rằng LaVern Duffy, người hộ tống Ellen về Ðức là nhân tình của cô ta và hai người này còn giữ liên lạc mật thiết sau khi cô ta về nước. Trong một lá thư gửi cho LaVern, Ellen yêu cầu ông ta nên gửi tiền cho cô ta bằng ngân phiếu (check) thay vì bưu phiếu (money order) vì ngân hàng Ðức không thích nhận money order từ ngoại quốc. Wayne A. Duffy, em trai của LaVern Duffy xác nhận rằng sau khi người anh qua đời, ông ta đã tìm thấy những thư từ của Ellen Rometsch gửi cho LaVern và những thư từ này cho thấy Ellen Rometsch đã nhận nhiều tiền của phe Kennedy. Wayne nói thêm rằng “Người ta không thể nào trục xuất một người đàn bà ra khỏi nước Mỹ rồi nói với cô ta rằng hãy giữ im lặng mà không trả cho cô ta một món tiền nào.” Khi được hỏi đó có phải là tiền của anh ông ta hay không thì Wayne trả lời dứt khoát “Tuyệt đối là không phải. Ðó là tiền của Kennedy.”
 
Việc Robert Kennedy trục xuất Ellen Rometsch về Ðức là một điều may mắn cho Kennedy trong cuộc bầu cử năm 1964 vì theo lời Robert Kennedy thú nhận với Ben Bradlee thì “vụ Ellen Rometsch là điểm yếu duy nhất đối với gia đình Kennedy ngoài những biến chuyển tại Nam Việt Nam.” Robert Kennedy nói thêm rằng cần phải giữ không cho Ellen Rometsch trở lại Hoa Kỳ để điều trần như dự định của các đảng viên Cộng Hoà muốn dùng vụ này để làm mất uy tín của TT Keneedy.
 
Cuộc điều tra của Thượng Viện về vụ tai tiếng này kết thúc vì TT Kennedy bị ám sát vào tháng 11 năm 1963, tuy nhiên trong cuốn Mặt Trái của Kennedy, ngoài Ellen Rometsch, Seymour Hersch còn cho đăng hình ảnh của những nhân vật phụ nữ khác có liên hệ với Kennedy, đó là Phyllis McGuire, Judith Campbell Exner, Durie Malcolm, Alicia Clark, Pamela Turnure và Marilyn Monroe. Riêng tài tử điện ảnh Marilyn Monroe thì Hersh cho biết rằng bà ta yêu Kennedy một cách tuyệt đối, bà Marilyn Monroe tự ví mình như là một quân nhân và Kennedy là Tổng Tư Lệnh Tối Cao và theo bà thì người quân nhân thì phải luôn luôn tuân lệnh của vị tổng tư lệnh.
 
Hersh cho biết rằng vì những liên hệ tình dục quá đáng như vậy, Tổng Thống Kennedy đã mắc một loại bệnh “phong tình” không thể chữa được và căn bệnh này ông vẫn còn mang trong người cho đến khi từ trần. Kennedy không phải là nhà lãnh đạo duy nhất bị bệnh phong tình vì bốn mươi năm trước đó, vị lãnh đạo tối cao của khối Xã Hội Chủ Nghiã là V.I. Lenin cũng mắc phải bệnh “giang mai” từ một cô gái điếm ở Paris vào khoảng năm 1902 và bị trở thành bại liệt mà chết vào năm 1924. Tuy nhiên, trước Lenin còn có những nhà lãnh đạo nổi tiếng khác cũng đã bị mắc phải bệnh giang mai: đó là Vua Henry VII, Ivan Bạo Chúa, Napoleon Bonaparte và Adolf Hitler.
 
Sau chương 21 nói về sự mê gái của Kennedy, Seymour Hersh đã dành chương thứ 22 kế tiếp để nói đến những khám phá của ông về chính sách của TT Kennedy về Việt Nam và nhất là những chi tiết liên quan đến cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 và đặc biệt là việc TT Kennedy đã gửi một đặc phái viên sang Sài Gòn thuyết phục TT Ngô Ðình Diệm phải loại ông Ngô Ðình Nhu và tạm thời lánh nạn trong toà đại sứ Hoa Kỳ, nhưng ông Ngô Ðình Diệm từ chối.
 
Trong phần dưới đây, người viết sẽ tóm lược những điều Seynour Hersh viết về Kennedy và Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trước cuộc đảo chánh 1963.
 
Kennedy rất sợ TT Ngô Ðình Diệm thương thuyết với CSBV
Theo tác giả Seymour Hersh thì vào mùa thu năm 1963, có một diễn biến rất quan trọng xảy ra tại Việt Nam nhưng lại không được giới truyền thông báo chí Hoa Kỳ quan tâm đến: đó là những nguồn tin tình báo liên quan đến việc Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu đang tìm cách thương thuyết một cách không chính thức với Cộng sản Bắc Việt nhằm tiến đến việc thiết lập một chế độ trung lập tại miền Nam.
 
Nếu quả thật có việc đó thì những cố vấn quân sự, những phi công Hoa Kỳ đã được chính phủ Ngô Ðình Diệm chính thức mời sang giúp cho VNCH sẽ bị yêu cầu rời khỏi miền Nam Việt Nam. Những nguồn tin về việc mật đàm giữa Sài Gòn và Hà Nội được đồn đại khắp Sài Gòn, tuy nhiên theo các giới quan sát thì nếu có xảy ra chăng nữa đó cũng chỉ là những đồn đại suông mà thôi vì ai ai cũng đều biết rằng TT Ngô Ðình Diệm là một người yêu nước và cũng là một người tích cực chống Cộng sản, một người luôn luôn chia sẻ quan điểm của ngưòi Mỹ thời bấy giờ: “thà chết hơn là Cộng sản (better dead than Red.)
 
Seymour Hersh cho biết rằng vào giai đoạn đó, có hai nhân vật rất quan trọng của Hoa Kỳ lại xem những sự đồn đại này là vô cùng quan trọng, đó là Tổng Thống John F. Kennedy và ông Henry Cabot Lodge, đại sứ Mỹ tại Sài Gòn.
 
Seymour Hersh cho biết rằng nhà báo Charle Bartlett, một người bạn rất thân của Kennedy đã cho ông biết rằng vào mùa thu năm 1963, TT Kennedy đã trút sự phẫn nộ -và sự sợ hãi- về vấn đề Việt Nam với ông. Bartlett nói rằng trước khi bị ám sát vào cuối năm 1963, TT Kennedy đã tỏ ra rất bi quan về toàn bộ vấn đề Việt Nam. Kennedy đã nói với Bartlett như sau:
“Này Charlie, tôi không thể để cho Việt Nam rơi vào tay Cộng sản rồi thì sang năm 1964 lại đi xin cử tri Hoa Kỳ bỏ phiếu bầu lại cho tôi vào chức vụ tổng thống. Bằng bất cứ cách nào chúng ta cũng phải bảo vệ phần lãnh thổ đó cho qua khỏi cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 năm 1964. Chúng ta đã nhượng Ai Lao cho Cộng sản và nếu tôi lại bỏ Việt Nam thì tôi khó mà ăn nói với cử tri Hoa Kỳ được. Tuy nhiên chúng ta cũng sẽ không có tương lai gì ở Việt Nam đâu! Người Nam Việt Nam ghét (hate) chúng ta. Họ muốn chúng ta rút ra khỏi đất nước của họ. Ðến một lúc nào đó, họ sẽ ‘đá đít’ (kick our asses) chúng ta ra khỏi Việt Nam!”
 
Hersh cho biết rằng ngoài Charles Bartlett, TT Kennedy còn tiết lộ với sử gia William Manchester, tác giả cuốn sách “The Death of a President,” rằng rất có thể TT Diệm sẽ tham gia vào việc thương thuyết với Cộng sản Bắc Việt. Manchester nói rằng Kennedy có sự bất đồng ý kiến với ông Diệm và Kennedy không tin tưởng ông Diệm (He did not trust Diem.)
 
Tổng Thống Ngô Ðình Diệm có âm mưu thương thuyết với Cộng sản hay không?
Seymour Hersh cho biết rằng trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1995, một nhân vật thân tín của TT Diệm xác nhận với ông ta rằng điều đó có thật. Nhân vật này là ông Trần Văn Dĩnh, hồi năm 1963 làm Sứ Thần tại toà Ðại sứ VNCH tại Washington và sau khi Ðại sứ Trần Văn Chương từ chức thì trên nguyên tắc, ông Trần Văn Dĩnh được xem như là Xử Lý Thường Vụ toà Ðại Sứ. Ông Trần Văn Dĩnh được xem như là một trong những người rất thân tín của TT Diệm vì vào năm 1944, người ta đồn rằng chính ông Dĩnh là người đã cứu ông Diệm khỏi bị thực dân Pháp bắt giam tại Huế và sau đó ông Diệm được người Nhật bí mật đưa vào Sài Gòn để trốn tránh người Pháp.
 
Hersh cho biết rằng theo ông Trần Văn Dĩnh thì “ông Ngô Ðình Diệm và bào đệ của ông biết rõ điều gì sẽ xảy ra, và họ đã chấp nhận cái số phận dành cho họ.” Ông Trần Văn Dĩnh nói rằng: “Tôi được lệnh của Tổng Thống Diệm triệu hồi về nước và đến Sài Gòn vào ngày 30 tháng 10 năm 1963. Ngay sau đó tôi được vào yết kiến Tổng Thống sau khi ông ta vưà tiếp Ðại sứ Cabot Lodge. Tổng Thống Diệm ra lệnh cho tôi tức khắc quay về Washington để nói với người Mỹ rằng “ông Diệm đầu hàng qúy vị” (Diem is surrendering to you) -một cách nói để mua thời gian. Sau khi tìm cách trì hoãn người Mỹ, tôi được lệnh phải bay qua Ấn Ðộ để thương thuyết với Bắc Việt.” Ông Dĩnh nói với S. Hersh rằng “Tôi tin tưởng rằng ông Diệm biết rõ một cuộc đảo chánh sắp sửa diễn ra và trước khi bị giết, ông ta cũng sắp sửa nói với người Mỹ là các ông hãy rút ra (get out) khỏi Việt Nam. Ông Diệm nói thêm: “Tôi không thể nào nói chuyện với người Mỹ được nưã!”
 
Theo Hersh thì ông Trần Văn Dĩnh không có cơ hội đi sang Ấn Ðộ vì mấy ngày sau thì cuộc đảo chánh xảy ra và Tổng Thống Diệm bị giết. Ông Dĩnh cho biết rằng chính phủ VNCH không hề bao giờ cứu xét đòi hỏi (demand) của Hoa Kỳ về việc phải loại bỏ ông Ngô Ðình Nhu. Ông ta hỏi lại Seymour Hersh: “Hoa Kỳ có cái quyền gì mà đòi ông Diệm phải loại bỏ người này hay thêm người kia? Người Mỹ có thể đến nhà tôi rồi ra lệnh cho tôi phải lấy một người vợ mới hay không?”
 
Trong phần phụ chú, Hersh nói rằng ông Trần Văn Dĩnh sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên nếu ông ta được nghe cuốn băng ghi lại cuộc đối thoại giưã TT Kennnedy và Roger Hilsman, Phụ Tá Ngoại Trưởng về Ðông Nam Á Sự Vụ tại Bộ Ngoại Giao ngay sau cuộc đảo chánh 1-11-1963 xảy ra. Cuộc đối thoại này liên quan đến việc Thái Tử Sihanouk tỏ ra nghi ngờ rằng chính người Mỹ đã âm mưu việc lật đổ ông Diệm. Hilsman nói rằng “sau những mối nghi ngờ này là sự sợ hãi của Sihanouk về những điều đã xảy ra cho hai ông Diệm và Nhu. Sự sợ hãi chính quân đội của ông. Sihanouk cũng lo ngại hơn vì dưới thời Tổng Thống Eisenhower, CIA đã có dính dáng đến âm mưu lật đổ Sihanouk. TT Kennedy hỏi lại:
“CIA có làm vậy hay không? Chuyện âm mưu đảo chánh hồi năm 1959 là có thật hay không?”
 
Hilsman trả lời: “Quả thật đúng như vậy.”
 
Kennedy: “CIA làm việc đó?”
 
Hilsman: “Chắc chắn rồi. CIA đã cung cấp tiền bạc và dính dáng đến âm mưu nhằm lật đổ Sihanouk ngay cả trong thời kỳ trước chính phủ này.”
 
Kennedy: “Chúa ơi! CIA đã đảo chánh ở Indonesia, CIA đã đảo chánh ở Lào, họ cũng đã âm mưu đảo chánh ở Cambodia.”
 
TT Kennedy chỉ nhắc đến việc CIA dính dáng đến các cuộc đảo chánh dưới thời Eisenhower tuy nhiên ông đã được thông báo rõ ràng về âm mưu của CIA trong việc giết Thủ Tướng Patrice Lumumba của nước Cộng Hoà Congo và giết Rafael Trujillo của nước Cộng Hoà Dominican. Ông ta cũng biết rõ và đồng ý về âm mưu của CIA về dự định ám sát Fidel Castro của Cuba và dĩ nhiên là cả việc giết chết TT Ngô Ðình Diệm và ông Ngô Ðình Nhu. Hersh nói thêm rằng Phó Tổng Thống Lyndon Johnson không hề hay biết gì về những âm mưu này vì ông không hề được tay chân của Kennedy thông báo cho biết một điều gì.
  
Lansdale từ chối không sang Việt Nam vì không muốn loại trừ TT Ngô Ðình Diệm theo ý của Kennedy
 
Sự phẫn nộ và lo sợ đối với ông Diệm đã khiến cho Kennedy nghĩ đến biện pháp loại trừ TT Ngô Ðình Diệm. Seymour Hersh nói rằng Michael Forrestal, một cộng sự viên rất thân cận của Kennedy trong Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, người đã cùng với Harriman và Roger Hilsman thảo bức điện văn 243 chỉ thị cho Toà Ðại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn xúc tiến cuộc đảo chánh loại trừ TT Ngô Ðình Diệm, có tiết lộ rằng vào mùa thu năm 1963, ông ta có mời Rufus Phillips đến tham dự một buổi họp của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia tại Bạch Cung với sự tham dự của TT Kennedy.
 
Rufus Phillips là một sĩ quan Mỹ được phái sang Việt Nam vào năm 1954, ông được cử phục vụ cho Saigon Military Mission (SMM: Phái bộ Quân sự Sài Gòn,) một tổ chức của CIA dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Edwards Lansdale. Rufus Phillips là người trong dòng họ Phillips, một gia đình rất giàu có và nổi tiếng tại Hoa Kỳ vì họ là chủ nhân của công ty dầu hoả Phillips. Trong thời gian phục vụ dưới quyền Lansdale, ông đã chịu ảnh hưởng Lansdale rất nhiều và tỏ ra vô cùng ngưỡng mộ vị chỉ huy này của ông. Sau khi trở về Mỹ một thời gian, Rufus Phillips lại nhận lời trở lại Việt Nam vào mùa thu năm 1962 để giữ chức vụ giám đốc Chương trình Yểm trợ Nông thôn (Rural Assistance Program) của USOM và do đó mà ông trở thành một “chuyên viên” về vấn đề ẤỊp Chiến Lược của VNCH. Rufus Phillips lúc đó vẫn tin tưởng rằng người Mỹ có thể giúp cho miền Nam Việt Nam chiến thắng được Cộng sản, ông tin tưởng rằng vẫn còn có thể tách rời ông Ngô Ðình Nhu ra khỏi chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và người duy nhất có thể làm được việc đó thì không ai khác hơn là Tướng Ed Lansdale.
 
Michael Forrestal biết rõ về quan điểm của Rufus Phillips cho nên Forrestal đã mời Phillips đến tham dự một phiên họp của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia tại Bạch Cung dưới sự chủ toạ của TT Kennedy vào mùa thu năm 1963 và Forrestal đã mời Rufus Phillips lên phát biểu ý kiến. Hersh cho biết rằng dường như là việc mời Phillips đến tham dự phiên họp cũng như là lên phát biểu ý kiến đã được Forrestal trình với Kennedy và đã được Kennedy chấp thuận vì Phillips chỉ là một viên chức cấp nhỏ khó mà có thể được mời tham dự phiên họp này.
 
Hersh cho biết rằng trong cuốn hồi ký chưa xuất bản của Rufus Phillips thì ông ta nói rằng trong phiên họp này, ông đã nói với TT Kennedy như sau:
“Vấn đề là ở ông Nhu. Ông ta đã mất hết sự kính trọng của đa số trong giới lãnh đạo dân sự cũng như là quân sự. Nhu phải rời khỏi Việt Nam nếu không thì sẽ xảy ra hỗn loạn. Tôi tin rằng cần phải tách rời Nhu ra khỏi ông Diệm tuy nhiên chỉ có một người duy nhất mà Tổng Thống Diệm tin tưởng và có thể thuyết phục được ông Diệm để cho ông Nhu ra đi mà thôi. Người đó là Tướng Edward Lansdale. Không có một người nào khác có đầy đủ khả năng và tư cách để giúp cho ông Diệm thiết lập một chính phủ mới để đối phó với tình hình. Tôi xin đề nghị Tổng Thống nên gửi Tướng Lansdale sang Việt Nam càng sớm càng tốt...”

Theo Hersh thì căn cứ vào biên bản của phiên họp này, được giải mật vào năm 1995, lời phát biểu của Phillips rất xác thật. Biên bản này cho biết rằng Phillips đã nói lên điều mà Forrestal và cả TT Kennedy đều muốn mọi người trong phiên họp nghe: “Chúng ta có thể giữ ông Diệm nhưng mà chúng ta không thể nào thắng được cuộc chiến tranh nếu ông Nhu còn ở trong chính quyền. Ðiều cần thiết là một chiến dịch của Hoa Kỳ (a US campaign) và một người quản lý chiến dịch (campaign manager). Landsdale là người có nhiều khả năng nhất để đảm nhận công tác quản lý chiến dịch này. Phillips tin tưởng rằng chúng ta có thể chiến thắng với Tướng Lansdale.” TT Kennedy trả lời rằng: “Nhu có thể gây ra sự suy yếu vô cùng trầm trọng cho chính phủ (Việt Nam) hiện nay rồi thì sau đó ông ta sẽ chạy sang Pháp. Còn người Mỹ chúng ta thì lại sẽ bị quy trách là người đã gây ra sự sụp đổ của nước Việt Nam.”
 
Phillips cho Hersh biết rằng TT Kennedy đã ghi chép những lời phát biểu của ông và đó là những sự ghi chép duy nhất của ông trong phiên họp này. Sau phiên họp, TT Kennedy đã nói với ông: “Ông Phillips, tôi muốn cám ơn ông, nhất là việc ông đề cử ông Lansdale.”
 
Về phần Tướng Lansdale thì Hersh cho biết rằng ông Lansdale đã nhiều lần tâm sự với Tiến sĩ Daniel Ellsberg, hai người đều là “nạn nhân” dưới thời Kennedy còn được hoạt động dưới thời TT Lyndon Johnson, khi cả hai người đều được mời sang Sài Gòn phục vụ cho Chương Trình Bình Ðịnh Nông Thôn (Pacification Program) vào giữa thập niên 1960. Tiến sĩ Daniel Ellsberg, sau này là người đã tiết lộ “Hồ Sơ Ngũ Giác Ðài” (The Pentagon Papers,) đã cho biết rằng ông đã “nghe Lansdale kể đi kể lại về những thành tích của ông ta hồi còn hoạt động cho CIA tại Phi-luật-Tân và Việt Nam hồi thập niên 1950 hơn một năm rưỡi trời tại nhà của Lansdale ở Sài Gòn.”
 
Daniel Ellsberg nói rằng vào một buổi tối, Lansdale đã kể cho ông ta nghe những chuyện về những mối liên lạc giữa Lansdale và Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara. Và nhất là mối liên hệ đó đã kết thúc như thế nào vì Lansdale và McNamara không có thuận thảo với nhau nhiều. Nên nhớ rằng khi Kennedy lên nhậm chức thì cả hai người, Edward Lansdale và Daniel Ellsberg đều là nhân viên dưới quyền McNamara: Thiếu Tướng Lansdale là Phụ Tá cho Bộ Trưởng và Ellsberg là một “người trẻ kiệt xuất” (whiz kid) giữ chức vụ viết diễn văn và chuyên viên về chiến tranh nguyên tử của bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ. Vào mùa thu năm 1963, Lansdale không có tên trong danh sách được vinh thăng trung tướng, do đó ông xem như là cuộc đời binh nghiệp của ông đã “hết thời” và dự định về hưu. Lansdale cho Ellsberg biết một hôm ông bỗng nhận được một cú điện thoại của McNamara chỉ thị cho ông phải tháp tùng Bộ Trưởng Quốc Phòng vào Bạch Cung để gặp TT Kennedy. Trong cuộc họp này, chỉ có ba người là TT Kennedy, Bộ Trưởng McNamara và Lansdale mà thôi.
 
Daniel Ellsberg kể lại rằng trong phiên họp này, TT Kennedy đã nói với Lansdale rằng:
“Tôi đang chuẩn bị gửi ông sang Việt Nam để làm việc với Tổng Thống Diệm và tìm cách để có thể tách rời (separate) Diệm với Nhu.”
 
Nhu bị xem như là người đã gây ra cuộc khủng hoảng -- một thiên tài của tội lỗi (evil genius). TT Kennedy hỏi Lansdale ông ta có đồng ý sang Việt Nam hay không. Lansdale trả lời rằng ông ta muốn đi.
 
Ellsberg nói rằng khi Lansdale nhận lời, TT Kennedy nói thêm rằng:
“Nếu không thực hiện được việc đó -ông Nhu không chịu đi- hay là nếu tôi thay đổi ý kiến và quyết định rằng chúng ta cần phải loại trừ (get rid of) ngay cả ông Diệm, ông có đồng ý với quyết định đó hay không?”
 
Lansdale lắc đầu buồn bã trả lời:
“Thưa Tổng Thống, tôi không thể làm việc đó được. Ông Diệm là bạn của tôi và tôi không thể làm như vậy được!”
 
Theo Ellsberg, Lansdale cho biết TT Kennedy không tỏ ra giận dữ khi ông ta nói thẳng là ông ta không thể và không chịu đồng ý với việc loại trừ ông Diệm, tuy nhiên Lansdale hiểu ngay rằng ông ta sẽ không được gửi sang Việt Nam. Ông đã trả lời không, đã từ chối một công việc mà ông ta cần và muốn nhất: sang làm đại sứ tại Việt Nam. Lansdale không chỉ trích Kennedy và ông nói rõ rằng TT Kennedy có quyền hỏi ông như vậy.
 
Trên đường trở về Ngũ Giác Ðài, McNamara đã nổi trận lôi đình với Lansdale, một việc mà xưa nay ông ta chưa hề có. McNamara nói với Lansdale: “Anh không có quyền nói với một vị tổng thống Hoa Kỳ như vậy. Khi tổng thống muốn anh làm một việc gì, ông không thể trả lời ‘không, tôi không làm’ với tổng thống.”
 
Lansdale cho Ellsberg biết rằng khi ông sửa soạn dọn đồ đạc và tài liệu để rời khỏi Bộ Quốc Phòng thì nghe tin Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã bị giết. Ellsberg cho biết rằng khi Lansdale kể lại chuyện này, ông ta nói rằng TT Kennedy không bao giờ dùng chữ “kill” (giết) hay “assassinate” (ám sát) khi nói đến ông Diệm, tuy nhiên Lansdale nghĩ rằng trong đầu óc của ông thì đó là việc mà TT Kennedy đã thảo luận với ông.
 
Cabot Lodge: Ông Diệm coi thường Tổng Thống Hoa Kỳ
Sau khi Edward Lansdale từ chối, TT Kennedy mời Henry Cabot Lodge, cựu ứng cử viên Phó Tổng Thống của Ðảng Cộng Hoà trong liên danh Nixon sang làm đại sứ tại Việt Nam.

Cabot Lodge xuất thân trong một đã gia đình danh giá tại tiểu bang Massachusetts, cựu thượng nghị sĩ, đã tình nguyện gia nhập vào quân đội trong Ðệ Nhị Thế Chiến và từng làm thông dịch viên tiếng Pháp cho Thống Tướng Eisenhower, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Ðội Ðồng Minh tại Âu châu. Chính Cabot Lodge là người đã thuyết phục Thống Tướng Eisenhower nhận lời đại diện cho đảng Cộng Hoà ra ứng cử và ông đã đắÔc cử tồng thống vào năm 1952. Cabot Lodge là một nhân vật cao cấp trong hàng ngũ đảng Cộng Hòa, đã từng là ứng cử viên Phó Tổng thống của đảng này năm 1960 và Kennedy đã mời Cabot Lodge làm đại sứ tại Việt Nam với thâm ý là chính sách về Việt Nam của ông là một chính sách lưỡng đảng, được cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà ủng hộ, do đó nếu có thất bại thì chính đảng Cộng Hoà cũng phải nhận lãnh một phần trách nhiệm. Ngược lại, Cabot Lodge nhận lời Kennedy sang làm đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng có một mục đích khác: tạo thêm tên tuổi và uy tín để đoạt lấy sự đề cử của đảng Cộng Hoà trong cuộc bầu cử vào tháng 11 năm 1964.
 
Ðại sứ Lodge đến Việt Nam vào tháng 8 năm 1963, ngay sau khi vụ tấn công các chùa chiền diễn ra và sau này ông ta tiết lộ rằng TT Kennedy đã ra lệnh cho ông là phải báo cáo thẳng cho tổng thống qua hệ thống CIA: “Tôi được chỉ thị là phải gửi tất cả mọi điện tín trực tiếp đến Tổng Thống Kennedy và chỉ có Tổng Thống mới có quyền quyết định phân phối những phúc trình này cho những người nào ông ấy muốn cho đọc mà thôi.”
 
Cabot Lodge là một trung tướng trừ bị của Lục Quân Hoa Kỳ, ông cũng rất tin tưởng vào quan niệm của Bạch Cung cho rằng “điều gì tốt đẹp cho nước Hoa Kỳ thì cũng tốt đẹp cho Miền Nam Việt Nam.” Về sau Cabot Lodge viết lại rằng:
“Tôi không có liên hệ hay dính dáng gì đến nguồn gốc của chính sách về Việt Nam này nhưng mà tôi nghĩ rằng chính sách đó là đúng. Tôi nghĩ một cách thẳng thắn rằng chúng ta có quyền tuyệt đối để sử dụng những áp lực hợp pháp nhằm gây ảnh hưởng một phần nào đó trong sự mặc cả với một chính phủ ngoại quốc khácà Khi người ta nhận sự giúp đỡ của chúng ta thì chúng ta có cái quyền làm áp lực hay ‘lèo lái’ họ phải làm những điều chúng ta muốn.”

Trong lần gặp gỡ đầu tiên với TT Ngô Ðình Diệm ngay sau khi mới đến Sài Gòn nhậm chức, Ðại sứ Cabot Lodge có cảm tưởng rằng ông Diệm coi thường TT Kennedy:
“... Ông Diệm cứ nhìn lên trần nhà rồi nói về thời thơ ấu của ông, nói về lịch sử Việt Nam nhưng lại tuyệt đối từ chối không thèm thảo luận gì với tôi về những vấn đề mà Tổng Thống Kennedy muốn tôi thảo luận với ông ta. Tôi nghĩ rằng điều này là một hành động không chính đáng để đối xử với vị đại diện của Tổng Thống Hoa Kỳ... Tôi tin rằng nếu chế độ Ngô Ðình Diệm còn tiếp diễn thì sẽ có thể đưa đến việc Cộng sản thôn tính miền Nam: hoặc là do dân chúng chống lại những việc thất nhân tâm mà chính quyền đang làm, hoặc là do chính ông Ngô Ðình Nhu, em trai của Tổng Thống Diệm, có thể thương thuyết để đạt một thoả hiệp với Cộng sản.”
 
Theo Hersh thì chính TT Kennedy cũng công khai tuyên bố trong một cuộc họp báo vào ngày 12 tháng 9 năm 1963 như sau:
“Những điều gì giúp cho sự chiến thắng trong cuộc chiến (tại Việt Nam) thì Hoa Kỳ sẽ ủng hộ, còn những điều gì gây ảnh hưởng bất lợi cho cuộc chiến thì chúng ta sẽ chống đối... Chúng ta đến Việt Nam không phải để mà chứng kiến một sự thảm bại và chúng ta sẽ theo đuổi những chính sách mà tôi đề cập đến hôm nay để đẩy mạnh cho những nguyên nhân cũng như là những vấn đề có thể giúp cho chúng ta đạt đến sự chiến thắng.”

Vài ngày trước đó, trong một cuộc phỏng vấn với đài truyền hình CBS, khi ký giả nổi tiếng Walter Cronkite hỏi: “Thưa Tổng Thống, Ngài có tin rằng chính phủ VNCH có thể thu phục lại được sự ủng hộ của dân chúng Việt Nam hay không?” thì TT Kennedy trả lời rằng: “Tôi tin tưởng như vậy. Nếu có sự thay đổi về chính sách cũng như là về nhân sự thì tôi nghĩ rằng chính phủ Việt Nam có thể lấy lại được sự ủng hộ của dân chúng. Nếu họ không thay đổi, tôi nghĩ rằng cơ may nắm lại sự ủng hộ của dân chúng sẽ không lấy gì làm sáng sủa.”
 
Như vậy, trước khi cuộc đảo chánh diễn ra vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, TT Kennedy tin tưởng rằng cần phải có sự thay đổi nhân sự trong chính phủ của TT Ngô Ðình Diệm, đó là việc tách rời ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu ra khỏi ông Diệm, đó là việc đưa cả hai vợ chồng ông Nhu ra ngoại quốc (The Nhu’s must go!)
 
Kennedy bí mật gửi người bạn rất thân sang Sài Gòn
Tài liệu của Seymour Hersh có tiết lộ một chi tiết mà trước đây người Việt Nam không hay biết: đó là TT Kennedy đã nhờ một trong những người bạn rất thân, thân nhất của ông (one of his closest friends) bay sang Sài Gòn vào tháng 10 năm 1963 để thuyết phục TT Ngô Ðình Diệm loại ông Ngô Ðình Nhu ra khỏi chính quyền.
 
Hersh cho biết:
“Trong quá trình tìm hiểu tài liệu để soạn cuốn sách này, người ta (Hersh) được biết rằng vào mùa thu năm 1963, TT Kennedy đã có một nỗ lực thứ hai nhằm tách rời ông Nhu với TT Ngô Ðình Diệm. Lần này, Kennedy không sử dụng một nhân vật có liên hệ thân hữu đặc biệt gì với ông Diệm, như là Lansdale, thay vào đó, ông ta đã gửi một vị sứ giả riêng đại diện cho quyền lực của Tổng thống Hoa Kỳ. Ðây là cơ hội cuối cùng để cho ông Diệm tự cứu mình và giữ lại được ngôi vị tổng thống. Vào đầu tháng 10 năm 1963, Cabot Lodge đã được Lucien Conein báo cáo rằng các tướng lãnh âm mưu đảo chánh dự định sẽ giết ông Diệm. Dù rằng không có một bằng chứng nào, không có một văn kiện nào còn lưu lại chứng minh về việc đó, tuy nhiên thật là rất khó để có thể tin được rằng Ðại sứ Lodge lại không trực tiếp chuyển một tin quan trọng như vậy lên TT Kennedy.”
 
Hersh cho biết rằng vào tháng 10, Lucien Conein đóng vai trò liên lạc và trung gian giữa Cabot Lodge và những sĩ quan âm mưu đảo chánh. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tác giả Hersh vào năm 1996, Conein nói rằng:
“Tôi thảo luận vấn đề này với Cabot Lodge và tôi nói với ông ta rằng không bao giờ có một sự nghi ngờ nào rằng Tướng Dương Văn Minh, người cầm đầu âm mưu đảo chánh, lại để cho hai ông Diệm và Nhu sống sót. Một tháng trước đó (tháng 9-1963,) Dương Văn Minh đã nói với tôi rằng họ sẽ hạ sát (knock off) ông Diệm. Tôi nói: “Ðừng có làm việc đó vì có thể gây ra nhiều rắc rối.” Big Minh trả lời: “Chúng ta sẽ không thảo luận về chuyện này nữa!” Conein cho biết: “Tôi đã phúc trình việc này với Ðại sứ Lodge.”
 
Nhân vật cuối cùng trong tấn thảm kịch Ngô Ðình Diệm vào mùa thu năm 1963 là Torbert Macdonald, người bạn ở trọ cùng phòng (roommate) của Kennedy thời còn là sinh viên đại học và cũng là một trong những người bạn thân thiết nhất của TT Kennedy (one of his closest friends).
 
Tolbert Macdonald cũng là một dân biểu thuộc đảng Dân Chủ của tiểu bang Massachusetts như Kennedy tuy vậy rất ít người biết về những liên hệ giữa ông với TT Kennedy. Chính Arthur Schlesinger, một sử gia và cũng là bạn thân của Kennedy trong cuốn hồi ký nổi tiếng “A Thousand Days: John F. Kennedy in the White House” dài trên một ngàn trang cũng không hề nhắc nhở gì đến nhân vật Macdonald này, duy Ted Sorensen thì chỉ có nhắc sơ qua về Macdonald mà thôi. Trong một cuộc phỏng vấn thu âm dành cho Thư Viện Tổng Thống Kennedy, Macdonald đòi phải bảo mật tuyệt đối tài liệu này, tuy nhiên đến năm 1995, sau khi cuốn băng này được giải mật thì người ta thất vọng vì Macdonald không tiết lộ một chi tiết nào quan trọng cả. Trong những tài liệu liên quan đến cuộc đời chính trị làm dân biểu liên tiếp 10 nhiệm kỳ của Macdonald, không có một chi tiết nào nhắc nhở đến mối liên hệ giưã ông và TT Kennedy. Em trai của Kennedy là Bobby Kennedy cũng có dành một tài liệu được ghi âm cho Thư Viện Tổng Thống Kennedy, tuy nhiên ông này cũng không hề nhắc nhở gì đến Macdonnald, người bạn rất thân của anh mình.
Sau này, Hersh cho biết rằng Joe Croken, một chính trị gia tại Boston và có một thời gian làm phụ tá hành chánh cho Macdonald, đã tiết lộ với ông vào năm 1997 rằng Tolbert Macdonald là một trong những người bạn ăn chơi (playpals) của Kennedy, thường xuyên có mặt trong những parties bên hồ tắm (pool parties) vào ban đêm tại Bạch Cung và đồng thời cũng là người bạn đồng hành trong nhiều cuộc phiêu lưu tình ái và tình dục cuả Kennedy, nhất là trong vùng Hollywood. Joe Croken nói rằng Macdonald là một người bạn mà Kennedy hoàn toàn tin tưởng, có nhiều điều bí mật giữa Kennedy và Macdonald mà chỉ có riêng hai người biết, họ không hề thổ lộ với bất cứ ai, kể cả Bobby Kennedy.
Joe Croken tiết lộ rằng một trong những điều bí mật mà Macdonald không hề nói đến đó là một cuộc du hành bí mật mà Kennedy đã gửi Macdonald sang Sài Gòn: “Macdonald là một nhân vật quan trọng đáng kể sau cùng của Hoa Kỳ đã gặp gỡ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Ðó là chuyến đi duy nhất của ông ta theo lời yêu cầu của Tổng Thống.” Joe Croken cho biết thêm rằng Macdonald có tiết lộ với ông về chuyến đi này tuy nhiên ông ta không hề nói gì liên quan đến nội dung của sứ mạng này cả.
Nếu Macdonald không tiết lộ gì với Joe Croken về sứ mạng của ông ta sang Sài Gòn nhưng ông ta lại không giữ kín với Eleanor Carney, người tình lâu năm của ông. Hersh nói rằng Joe Croken cũng xác nhận với ông rằng Eleanor Carney đã giữ một vai trò rất thân tín của Torbert Macdonald cho nên bà ta có thể biết được một vài trong những “chuyện bí mật” giữa ông ta với Kennedy. Sau khi Macdonald qua đời, bà Eleanor Carney lúc bấy giờ đang phục vụ tại Viện Y Tế Quốc Gia, đã có nghĩ đến chuyện viết hồi ký với sự cộng tác của Herbert Parmet, giáo sư sử học tại trường Ðại Học Thành phố New York (City University of New York). Vào năm 1977, bà Eleanor Carney đã dành cho Giáo sư Herbert Parmet một cuộc phỏng vấn được ghi âm trong suốt bốn tiếng đồng hồ. Cuốn hồi ký này không hề được xuất bản, tuy nhiên vào năm 1983 thì Giáo sư Parmet đã sử dụng một số chi tiết trong cuộc phỏng vấn này trong cuốn sách của ông: “JFK: the Presidency of John F. Kennedy.”
Giáo sư Parmet cho biết rằng một nguồn tin rất đáng tin cậy (Eleanor Carney) tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn của ông như sau:
“Kennedy giải thích với Macdonald rằng ông ta được biết Tướng Dương Văn Minh và nhóm của ông ta đang dự định ‘ám sát’ (assassinate) ông Ngô Ðình Diệm. (Hersh ghi chú thêm rằng nguồn tin này có thể xuất phát từ Ðại sứ Cabot Lodge vì trước đó Conein đã báo động cho Lodge biết về việc các tướng lãnh này đã quyết tâm hạ sát ông Diệm.) Carney nói với giáo sư Parmet rằng: “Tổng Thống Kennedy muốn thiết lập một sự liên lạc trực tiếp với Tổng Thống Diệm. Ông ta do dự không muốn sử dụng đường dây chính thức qua toà đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn vì ông ta không thể tin cậy (trust) được người của toà đại sứ. Ông ta cũng không tin cậy cả Ðại sứ Cabot Lodge... và sau cùng thì cũng không có một người (Nam) Việt Nam nào mà ông ta có thể tin cậy được. Do đó ông đã nhờ đến Torbert Macdonald mang một lời kêu gọi của chính cá nhân ông đến ông Diệm, đó là để cho ông Ngô Ðình Nhu ra đi và vào trú ẩn trong toà đại sứ Hoa Kỳ.” Eleanor Carney nói với Giáo sư Parmet rằng trong cuộc hội kiến này, Dân biểu Torbert Macdonald đã cảnh cáo ông Diệm nguyên văn như sau:
“Họ sẽ giết ông. Xin ông hãy rời khỏi Dinh (Gia Long) để tạm thời xin vào trú ẩn trong toà đại sứ Hoa Kỳ.” Nhưng mà ông Diệm lại từ chối. Macdonald tường trình lại với Kennedy rằng: “Ông ta nhất định không chịu làm như vậy. Ông ta quá ương ngạnh, ông ta từ chối việc đó!”
Seymour Hersh cho biết thêm rằng ông đã nhiều lần phỏng vấn con trai của Macdonald là Torbert Macdonald Jr. về chuyện này và người con nói rằng qua nhiều cuộc tranh luận với thân phụ của ông về sự đạo đức của cuộc chiến tranh (Việt Nam) vào thập niên 1960 khi ông ta còn là sinh viên tại trường đại học Harvard, ông có nhớ lại rằng thân phụ của ông có nói: “Kennedy đã nhờ cậy đến ông trong việc cảnh cáo ông Diệm tại vì ông ta không thể tin cậy những người trong hệ thống chính thức tức là toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn.” Tobert Jr. nói rằng thân phụ của ông có báo cáo cho Kennedy rằng “Ông Diệm không chịu từ bỏ người em là ông Nhu.” Torbert Jr. cũng tiết lộ rằng thân phụ của ông đã yêu cầu Kennedy để cho ông bay sang Sài Gòn bằng phi cơ quân sự thay vì hàng không dân sự để bảo toàn bí mật. Torbert Jr. cho biết thêm rằng thân phụ của ông không hề lưu giữ một hồ sơ chính thức nào và sau khi ông ta từ trần thì gia đình tìm thấy giấy thông hành của ông trong thời gian làm dân biểu đã bị cắt xén nhiều trang bằng dao cạo râu.
Về vấn đề này, Hersh có đưa ra một nhận xét rằng nếu quả Tổng thống Kennedy có ý muốn cảnh cáo ông Diệm như lời bà Eleanor Carney kể lại thì trên bề mặt, điều này có vẻ mâu thuẫn: tại sao ông tổng thống cho phép người của ông ta âm mưu chống lại tổng thống của miền Nam Việt Nam rồi thì lại mật báo cho ông Diệm biết về số phận của ông ta? Hersh giải thích rằng vào mùa xuân năm 1961, Kennedy cũng đã làm một hành động tương tự: ông ta đã yêu cầu George Smathers của CIA gặp riêng Rafael Trujillo, nhà độc tài của nước Cộng Hoà Dominican và đề nghị ông này nên rời bỏ chức vụ và đi lưu vong. Trujillo chẳng thèm quan tâm đến đề nghị này và chỉ trong vòng vài tuần sau đó thì bị ám sát, với sự đồng loã của Hoa Kỳ. Ngoài ra cũng còn có thêm một nguyên nhân riêng khác trong quyết định của Kennedy nhằm giúp đỡ vào giờ chót cho ông Diệm: ông Diệm là một người bạn cũ (old friend) cũng như là một người tín hữu Thiên Chúa giáo mà trong nhiều năm trước đây chính thân phụ của ông là Joseph Kennedy cũng rất kính phục.
Kennedy dự định rút ra khỏi Việt Nam sau cuộc bầu cử 1964?
Seymour Hersh nói rằng sau khi Kennedy bị ám sát, những cộng sự viên thân tín của TT Kennedy đã cho biết rằng ông ta không dự định sẽ duy trì quân lực Mỹ tại Việt Nam sau năm 1965. Hersh cho biết rằng Charles Bartlett, một ký giả được xem như là bạn thân và rất được Kennedy tin cậy (confidant,) đã nói với ông rằng chính TT Kennedy có nói với Bartlett như sau: “Tôi không tin rằng Hoa Kỳ có một tương lai nào ở Việt Nam, nhưng mà chúng ta phải giữ quân đội lại đó qua cuộc bầu cử tổng thống năm 1964.”
Theo Hersh thì dự định này được nói rõ trong bài “Johnny, We Hardly Knew Ye” của Kenneth O’Donnell, một cộng sự viên rất thân tín và cũng là bạn ăn chơi của Kennedy, khi ông này thuật lại cuộc đối thoại riêng giữa Kennedy và Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield vào năm 1963. TNS Mike Mansfield là một trong những nhân vật tích cực ủng hộ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trong giai đoạn ông mới về chấp chánh vào năm 1954, tuy nhiên sang đến thập niên 1960 thì ông lại chống những chính sách của ông Ngô Ðình Diệm cũng như là công khai chống lại sự tham chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Theo O’Donnell thì TT Kennedy đã nói với TNS Mansfield rằng: “Tôi sẽ ra lệnh hoàn toàn triệt thoái quân Mỹ ra khỏi Việt Nam vào năm 1965. Nhưng mà tôi không thể ra lệnh như vậy trước năm 1965 -sau khi tôi được tái cử vào cuối năm 1964.”
Khi tác giả Hersh phỏng vấn TNS Mansfield về cuộc đối thoại này thì chính ông Mansfiel đã xác nhận chi tiết này của O’Donnell là có thật. Bài viết của Kenny O’Donnell về sau trở thành trọng tâm của những sự tranh luận về trách nhiệm của Kennedy trong cuộc chiến tranh Việt Nam, một việc được người ta xem như là một trong những sự sa lầy bi thảm nhất trong lịch sử đối ngoại của nước Hoa Kỳ. Vào thời gian khi O’Donnell viết bài này, có lẽ ông ta chưa được biết rõ một cách hoàn toàn tường tận về âm mưu triệt hạ ông Ngô Ðình Diệm cũng như là ông ta không hề tiên đoán được rằng việc Tổng Thống Kennedy có biết trước về cái chết của ông Diệm về sau sẽ được công bố.
Tác giả Hersh kết luận rằng nếu những tường thuật của Charles Bartlett, Kenny O’Donnell và TNS Mansfield là đúng thì rõ ràng là Tổng Thống Kennedy luôn luôn sắp đặt kế hoạch để triệt thoái ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, sở dĩ ông ta chọn lựa không hành động như vậy vào mùa thu năm 1963 khi mà Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đang mất uy tín và sắp sửa bị đảo chánh là một cơ hội bằng vàng, đó chính là vì -theo tường thuật của ba nhân vật kể trên- thì chính sách của Kennedy không phải là để cứu Miền Nam Việt Nam mà chỉ muốn trì hoãn điều không thể tránh được là việc mất Việt Nam cho đến sau khi ông được tái đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống vào cuối năm 1964.
Về cái chết của TT Ngô Ðình Diệm, Hersh nhận xét rằng:
“Sở dĩ ông Ngô Ðình Diệm bị giết là tại vì ông ta muốn làm một điều gì vào năm 1963 -đòi người Mỹ triệt thoái ra khỏi Việt Nam- một điều mà TT Kennedy cũng muốn làm tuy nhiên chỉ sau khi cuộc bầu cử diễn ra vào năm 1964. Như vậy thì Kennedy đã giữ sự tham dự của người Mỹ trong cuộc chiến tại Việt Nam chẳng qua là chỉ vì những nguyên nhân thuận lợi nhất cho ông ta: đó là sự bảo đảm cho việc tái đắc cử chức vụ tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa vào năm 1964. Kennedy cũng quyết định chọn sự đứng bên ngoài, và tối thiểu, đã đồng lòng trong việc thảm sát một người bạn cùng gốc Thiên Chúa giáo và một người bạn chống Cộng sản (a fellow Catholic and fellow anticommunist.) Ông Diệm có những sai lầm, có rất nhiều, tuy nhiên ông ta không phải là một mối an nguy về chính trị cho Hoa Kỳ. Ông Diệm không phải là một Fidel Castro. Thực ra thì ông ta có cơ nguy bị thất bại hơn là Fidel Castro nhiều.”
“Trong cuộc họp báo vào ngày 14 tháng 11 năm 1963, cuộc họp báo cuối cùng trước khi bị ám sát, Tổng Thống Kennedy được hỏi ba câu hỏi chiếu lệ (perfunctory questions) về tình hình tại Nam Việt Nam, chẳng có câu hỏi nào chứng tỏ cho thấy giới truyền thông Mỹ tại Washington không có một ý niệm nào về sự dính dáng của tổng thống Hoa Kỳ trong cuộc lật đổ ông Diệm.
“Kennedy nói với các ký giả rằng: “Bây giờ, mục tiêu của Hoa Kỳ là đưa người Mỹ về nhà (to bring Americans home,) cho phép (permit) người Nam Việt Nam bảo tồn cho họ một quốc gia tự do và độc lập, và cho phép các lực lượng dân chủ trong nước được hoạt động.”
Seymour Hersh kết luận:
“Không có một mục tiêu nào trong những mục tiêu này có thể đạt được trong những năm sắp tới.”

Trần Ðông Phong
Tháng 11 năm 2009





Tài Liệu 29/10/2007

Minh Võ

Minh Võ trả lời phỏng vấn của đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngọai về việc ông Ngô Đình Nhu tiếp xúc với đại diện của nước Pháp và Bắc Việt năm 1962 về vấn đề hiệp thương giữa Nam- Bắc Việt Nam..


Người hỏi là nhà báo Hồng Phúc Lê Hồng Long, chủ nhiệm báo Thế Giới Ngày Nay

 

Hỏi: Trong cuộc mạn đàm giữa ông và ông Cao Xuân Vỹ đăng trên DCV Online mới đây, ông Cao Xuân Vỹ có nói đến cuộc tiếp xúc giữa ông Ngô Đình Nhu với ông Pinay, đại diện Tổng Thống Pháp Charles De Gaulle và sau đó với Phạm Hùng, cán bộ cao cấp của Việt Cộng, sau này từng là thủ tướng Bắc Việt. Nhiều độc giả rất quan tâm đến vấn đề chính trị tế nhị này. Theo ông, các cuộc tiếp xúc này ảnh hưởng thế nào dến tình hình chính trị Việt nam vào thời gian đó ?


Đáp
: Theo tôi nghĩ đây là dịp để những người Mỹ không ưa Tổng Thống Diệm và đặc biệt có ác cảm với ông Nhu vin vào chuyện nầy để tìm cách lật đổ Đệ Nhất Cộng Hoà.
Trong lần tiếp xúc với ông Cao Xuân Vỹ vừa qua, ông Vỹ có nói một điều không được tôi ghi trong bài đã đăng trên Đàn Chim Việt. Ông Vỹ bảo tôi, khi bàn với ông Nhu về đề nghị của Bắc Việt muốn hai miền hiệp thương, ông Pinay đã nói "nửa đùa nửa thật": Coi chừng người Mỹ họ mà biết chuyện này, họ sẽ đảo chính các ông đấy!" Dĩ nhiên một số người Mỹ trong chính quyền Kennedy đã muốn làm đảo chính từ 3 năm trước cơ. Nhưng lần này họ cũng có thêm ít nhất là một cái cớ hợp lý để giải thích với dư luận.

Hỏi:
Ông có thấy là hai anh em ông Diệm tự mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất không? Trước kia, năm 1955, ông Hồ đã nhiều lần đề nghị hai mìền hiệp thương để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956. Lúc ấy các ông đã cực lực từ chối. Thì tại sao bây giờ lại tán thành ?

Đáp:
Đúng ra năm 1955 Chính Phủ Ngô Đình Diệm đã từ chối vì lý do miền Bắc không có tự do, và cũng viện cớ không ký hiệp định Giơ Neo, thì không bị ràng buộc bởi hiệp định đó trong vấn đề tổng tuyển cử. Ông Diệm khi nhận lời cựu hòang Bảo Đại về chấp chánh năm 1954, ông đã biết mình phải làm gì để cứu ít nhất nửa nước khỏi họa Cộng Sản, vì ông đã quá hiểu thế nào là một nền chuyên chính vô sản, và các biện pháp tàn bạo của chế độ ấy. Cho nên không thể nào ông để cho một cuộc tuyển cử không công bằng, không có tự do này đưa nốt miền Nam cho Cộng Sản Quốc Tế. Vì ông cũng biết rõ ông Hồ là tay sai của Quốc Tế CS, chẳng thực tâm yêu nước, mà chỉ lợi dụng lòng yêu nước của nhiều thành phần dân tộc để chiến đấu cho ảo tưởng chế độ đại đồng của Mác.

Hơn nữa cũng phải nhìn nhận là lúc đầu trong những năm 1954- 1955 Miền Nam còn nhiều khó khăn chồng chất. Dân số lại ít hơn miền Bắc nhiều, nếu chấp nhận tổng tuyển cử ngay thì khó thắng được. Nhưng đến năm 1963 thì miền Nam đã vượt xa miền Bắc về mọi mặt. Tôi chỉ nêu vài con số.
Ví dụ số nước có tòa đại sứ ở Saigon lúc ấy là 81, gần gấp đôi số nước có bang giao với Hànội. Trong khi dân miền Bắc không đủ gạo ăn thì Saigon xuất cảng gạo, từ 70,000 tấn vào năm 1955 đã tăng lên đến 340,000 tấn xuất cảng vào năm 1962. Số lượng gia súc trong 7 năm đã tăng tới 500 lần. Thịt gia súc như heo, gà, vịt xuất cảng trong năm 1961 đã trị giá gần 140 triệu đồng (vào khỏang 4 triệu Đô la, tính theo giá chính thức là 35 Đồng một Đôla.). Và còn nhiều ưu điểm khác không kể xiết.

Để nói lên một cách cụ thể về cảnh thanh bình trù phú của miền Nam thời ấy tôi xin trích dẫn chỉ một đọan vắn thôi của tác giả Hồ Sỹ Khuê, một người vốn chê ông Diệm là độc tài và kỳ thị tôn giáo, thậm chí đàn áp Phật Giáo. Ông Hồ Sỹ Khuê nói về cảnh thanh bình phồn thịnh ấy như sau:-- Đây tôi đọc từ cuốn sách đồ sộ của ông nhan đề Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trong đó có nhiều câu đại lọai như thế này:

"Cuộc sống hằng ngày con nhà nông không còn đầu tắt mặt tối quá đáng. Thanh niên miệt vườn dùng quen tay nên biết ham chuộng máy móc. Nhờ giao thông tiện lợi hơn xưa, nên rành cảnh sống phố phường, mà không phải so bì hơn kém. Giáo dục mở mang. Trường ốc mở rộng thêm nhiều. Trẻ em miệt vườn trước không qua bậc tiểu học, nay đi vào trung học là chuyện bình thường. Báo chí sách vở lan tràn khắp nơi, mở rộng tầm hiểu biết phổ thông. Người lớn trẻ con đều thạo tin tức thế giới và chuyện xảy ra hằng ngày trong nước. Không còn mấy ai chìm trong vòng ngu tối nữa....
"Nông thôn không còn bần cố nông. Thành thị cũng không bao giờ còn gọi là vô sản được...." Đây là một cảnh sống của dân lao động ở thành thị được ông mô tả như sau:
"Tài xế tắc xi nhưng trưa đến không kể khách, nằm gác chân xem báo. Đạp xích lô nhưng mỗi chiều ngồi nhậu nhẹt lai rai bàn chuyện thời cuộc với xóm giềng. Những cảnh sống như thế xóa sạch mọi đẳng cấp thầy thợ trong xã hội, tạo một không khí hòa đồng vươn cao. Con em lao động đã bắt đầu vào đại học, làm giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, sánh vai cùng bạn bè đồng lứa, xuất phát từ đủ mọi thành phần xã hội.....Thực thế, dân Miền Nam thời Cộng Hòa Nhân Vị có một cuộc sống vât chất đầy đủ.... Đầy đủ. Chưa đúng. Thừa thãi."

Ông Khuê còn viết nhiều rất nhiều nữa về cảnh thanh bình phồn thịnh của miền Nam trong cuốn Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.Tôi nghĩ, trong cảnh phồn thịnh như thế, nông thôn không còn bần cố nông, thành thị hết vô sản, nếu hiệp thương để tuyển cử tự do miền Nam có nhiều hy vọng sẽ thắng.

Hỏi: Thế còn cuộc sống ở mìền Bắc thì sao?

Đáp: Tôi không có số liệu chính thức.Thực ra số liệu chính thức do CS đưa ra nhiều khi cũng chẳng đáng tin. Nhưng cứ đọc mấy truyện của một số nhà văn nhà thơ thì cũng đủ thấy cuộc sống ở miền Bắc, không phải chỉ thua miền Nam, mà là rất bi đát khó có thể tưởng tượng nổi. Ví dụ chỉ cần đọc Nỗi Oan của Đào Hiếu, Con Bò Thải và Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì của Phùng Gia Lộc, Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương, hay Ông Tướng Về Hưu, và Con Gái Thủy Thần của Nguyễn Huy Thiệp thì sẽ rõ.
Ngọc, vai chính trong Nỗi Oan mới 12 tuổi đã phải leo xuống giếng sâu thăm thẳm, đường lên trơn trượt để múc nước, gánh nước. Rồi khi lớn lên thấy trong làng "sao mà lắm người tự tử thế? Nhiều người tự thắt cổ. Có người nhảy xuống giếng mà chết. Người sống thì mùa đông chui vào đống lá khô cho đỡ rét...

Gia đình cậu Chính của Hằng vai chính trong Thiên Đường Mù bữa ăn chỉ có một đĩa rau muống luộc và một đĩa nhộng rang hành chia ra làm 3 ô, mỗi ô chỉ có 15, 16 con bé tí bằng đầu đũa. Thằng anh chọc đũa vào phần của thằng em bị mẹ dở đầu đũa gõ vào đầu thắng anh. Thằng anh khóc ré lên...
Con bò của hợp tác xã trong Con Bò Thải của Phùng Gia Lộc thì gầy nhom, chả bù cho khi nó chưa vào hợp tác xã thì béo tốt. Cái cảnh cha chung không ai khóc ở các hợp tác xã quá tàn tệ. Nếu thu họach có khá đôi chút thì cũng chỉ béo mấy kẻ trong ban quản trị. Xã viên vẫn đói meo.
Đặc biết dân quê nghèo đến độ trẻ con đã chín mười tuổi cũng không có quần. Không chỉ có thơ của Nguyễn Chí Thiện tả trẻ con trong tù lon ton không phải mặc quần.

Mà cả chuyện Cô Gái Thủy Thần của Nguyễn Huy Thiệp cũng tả cảnh một bé gái 12 tuổi cởi truồng cầm đầu một tóan 6,7 đứa trẻ ban đêm cũng trần truồng đi ăn trộm mía của hợp tác xã. Còn con trai mới 14 tuổi đã phải đi cầy. Mà lại còn là thợ cầy chủ lực của hợp tác xã. Tối đến về nhà lại còn phải đi đào đá ong! Trong Ông Tướng về hưu một nhân vật nói mỗi ngày trong nước có cả ngàn người chết khắc khỏai, chỉ ước được chết nhanh như lính. "Lính các anh sướng, đòm một phát. Sướng!" Chỉ mấy hàng đã đủ đau lòng. Có lẽ tin tức tình báo cũng cho ông Diệm biết tình cảnh đó. Nên nếu hiệp thương được, mà có dịp chia bớt phần lúa gạo, vải vóc ở miền Nam cho dân quê miền Bắc, thì đã là một cử chỉ bác ái, từ thiện rồi. Hơn nữa ai cũng biết ông là một nhà ái quốc, rất thương dân.

Hỏi: Ông có nghĩ rằng khi tính chuyện hiệp thương với Hồ Chí Minh, là ông Nhu đã mắc mưu trúng kế của con cáo già rồi không ?

Đáp:
Quả quýt dầy đã có móng tay nhọn. Tôi nghĩ ông Nhu không thể không biết mưu mô của CS. Và ông cũng phải tính toán kỹ lắm trước khi dấn thân vào những cuộc tiếp xúc nguy hiểm như vậy, nhất là vào mật khu của Việt Cộng không có hộ tống vũ trang. Chắc rằng trong các cuộc thương lượng ở Paris năm trước, có các nhà lãnh đạo Pháp Quốc bảo đảm, ông Nhu đã có thể có một sự tin tưởng nào đó, cũng như phải tự tin lắm, mới giấn thân như vậy. Chứ ông Nhu không phải con người xốc nổi, làm liều. Vả lại cũng vì nhiệt tình mong ước tránh được một cuộc xung đột vũ trang rộng lớn, trong đó có thể sẽ có sự tham dự của lực lượng vũ trang đáng kinh sợ của các đại cường.
Chính ông Đỗ Mậu, tác giả "hữu danh vô thực" của cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Văn Nghệ xuất bản tại Nam Cali năm 1993) đã trích đăng một lá thư riêng của một người bạn của ông, trong đó có nói đến những lời cố Tổng Thống Diệm nói với ông Võ Như Nguyện là một đồng chí của Tổng Thống rằng, "Vả tôi với chú Nhu có ý dù hai miền Quốc Cộng tranh chấp, nhưng đều là máu mủ ruột thịt, phải có biện pháp anh em giải quyết lấy chiến tranh, đỡ tốn hao sinh mạng, tài sản...." Trong cuốn Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê tôi đã trích dẫn đầy đủ hơn và đã có lời bình. Ông Đỗ Mậu trích lại bức thư của người bạn này để chứng minh Tổng Thống Diệm có ý định thỏa hiệp với Cộng Sản, bán đứng miền Nam.
Nhưng tôi lại thấy đây là bằng chứng cho thấy anh em ông Diệm thực sự yêu nước, thương dân, không muốn chiến tranh tiếp tục, mở rộng, gây thêm tang thương, chết chóc.

Hỏi: Ông có nghĩ rằng, nếu anh em ông Diệm không bị giết, và Hoa Kỳ ủng hộ ông trong việc hiệp thương với Bắc Việt thì Miền Nam sẽ không bị mất vào tay Cộng Sản không?

Đáp
: Rất tiếc rằng lịch sử không có chữ nếu hay chữ giả sử. Hơn nữa để trả lời câu hỏi hóc búa này tôi phải tự đặt mình vào địa vị hai ông mới thỏa đáng và công bình. Nhưng lại cũng tiếc rằng tôi không phải là một chính khách, chỉ viết báo, nghiên cứu và theo rõi thời cuộc với một nhãn quan hạn chế. Có thể nào ông miễn cho tôi khỏi trả lời câu hỏi nầy không ?

Hỏi: Đã đành là thế. Nhưng ông vừa nói ông từng nghiên cứu và theo rõi thời cuộc, vậy cứ như những gì ông nghiên cứu được, ông cứ thử đưa ra một nhận định và ước đóan tương đối thực tiễn xem sao?

Đáp: Đã vậy, thì xin ông cũng như qúy thính giả hãy coi như đây chỉ là phỏng định về tình hình có thể đã xảy ra trong dĩ vãng, theo nhãn quan của tôi mà thôi.
Theo tôi biết thì nhiều người chê ông Diệm quá ngay thẳng dễ bị lừa. Còn ông Nhu thì quá kiêu ngạo lại có ảo tưởng. Nhưng ngược lại cũng có người khen ông Nhu là có nhiều mưu lược và trầm tĩnh. Và nhiều người hơn nữa khen ông Diệm là người có viễn kiến chính trị như một nhà tiên tri, kiến thức về chiến lược sách lược quân sự của ông cũng rất là uyên bác.

Tôi chỉ xin nêu lên vài danh tánh và sự việc mà hiện tôi còn nhớ. Tôi không nhắc lại lời ca tụng của những danh nhân Mỹ như 3 vị Tổng Thống Mỹ là Dwight Eisenhower, Richard Nixon, Lyndon B. Johnson, Thống Tướng Maxwell Taylor hay đại sứ Frederick Nolting, hay nữ ký giả tên tuổi Marguerite Higgins, hay nhất là học giả, sử gia, nữ Tiến Sĩ Ellen Hammer là những người ai cũng biết là rất ngưỡng mộ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôi chỉ xin trưng dẫn mấy nhà báo Mỹ, Anh, Pháp, Úc đã từng chỉ trích nặng nề ông Diệm là độc tài gia đình trị, và coi ông thua kém ông Hồ. Tôi muốn nói đến những Stanley Karnow, Bernard Fall, Dennis J. Duncanson, Denis Warner. Người Việt thì có ông Hồ Sỹ Khuê đã nêu trên. Tất cả những người trên đều nêu những bằng chứng cho thấy ông Diệm có một viễn kiến chính trị như nhà tiên tri. Bernard Fall đã trưng dẫn một bản tin tình báo của Pháp năm 1948 đã phúc trình rằng ông Diệm lúc ấy đã biết trước Hoa Kỳ sẽ can thiệp vào Việt Nam, rồi Bernard Fall phê rằng viễn kiến đó rõ ràng là một lời tiên tri mà lúc ấy (1948) chẳng ai để ý. Karnow cũng khen ông Diệm đã tiên tri là phe Quốc Gia sẽ thua ... Về phía người Việt, có ông Hồ Sỹ Khuê đã nêu lên ít nhất là 3 trường hợp chứng tỏ ông Diệm nhìn trước thời cuộc như một nhà tiên tri. Riêng nhà báo Úc Denis Warner, trong cuốn The Last Confucian, --gọi ông Diệm là Nhà Nho Cuối Cùng-- đã thuật lại trường hợp ông Diệm chỉ cho ông trên bản đồ thấy chiến lược chiến thuật của Việt Cộng ở vùng Việt Bắc hồi 1948-50 ra sao. Ông cũng nhắc lại lời Tổng Thống Diệm nói về chiến lược của Mao Trạch Đông mà ông (Tổng Thống Diệm) cho rằng rất đơn sơ nhưng trên thế giới lại chỉ có hai người hiểu nổi là Che Guevara và Hồ Chí Minh. Phân tích kỹ nhận định này thì thấy ông Diệm phải là một người rất am tường về lịch sử và chiến lược mới có thể có một nhận xét trong một lúc về 3 nhân vật Cộng Sản trong chỉ một câu nói như vậy. Một người không nghiên cứu kỹ về Mao Trạch Đông, về Hồ Chí Minh, về Che Guevara, và phong trào Cộng Sản ở Nam Mỹ, thì không thể nào dám nói lời khẳng định như đinh đóng cột với một nhà báo nổi tiếng của Úc như Denis Warner.

Hỏi: Tôi cũng nghĩ ông Diệm là một lãnh tụ có tài mới có thể dẹp tan nạn thập nhị sứ quân trong một năm, rồi sau đó, tạo lập được một miền Nam trù phú và tương đối an bình chỉ trong vòng mấy năm. Nhưng nếu thực hiện 6 giai đọan để hiệp thương theo kế họach của Tổng Thống Diệm, như tự do trao đổi thư tín, tự do đi lại thăm viếng giữa hai miền, nhất là tự do chuyển cư từ Bắc vào Nam, thì sẽ chẳng khác gì mở toang cửa cho CS xâm nhập để rồi sau đó nó đánh phá mình thì sao? Trong số 3000 dân mà ông Nhu ước tính sẽ bỏ miền Bắc để di cư vào Nam sinh sống, thế nào chẳng có hàng trăm cán bộ tính báo gián điệp của Cộng Sản.

Đáp:
Trước khi thực hiện 6 giai đọan hiệp thương tất nhiên đã phải có một thỏa hiệp chấm dứt các hành động vũ trang chống phá lẫn nhau. Từ chỗ có những tiếp xúc giữa ông Nhu với Phạm Hùng sẽ có thể dẫn đến một cuộc họp thượng đỉnh giữa hai nhà lãnh đạo tối cao hai miền. Hay ít nhất cũng phải có một văn kiện ký kết giữa các bộ trưởng ngọai giao hai miền trước sự chứng kiến của các quan sát viên quốc tế. Cho nên việc gián điệp xâm nhập dù có cũng chỉ là những họat động thông thường không có nguy cơ đưa đến những xung đột vũ trang công khai được. Vả lại nếu miền Bắc có phái điệp viên vào Nam được một cách dễ dàng, thì miền Nam cũng có thể đưa gián điệp vào miền Bắc vậy. Tắt một lời, khi đã thỏa hiệp được với nhau thì chẳng những nguy cơ lan rộng chiến tranh không còn, mà còn có thể ngăn chặn hay giảm thiểu được những hành động quấy phá lẻ tẻ nữa. Dầu sao thì để đi tới đựơc một thỏa hiệp như thế đường đi dĩ nhiên còn dài chứ không thể thành tựu được chỉ qua một lần tiếp xúc giữa ông Nhu và Phạm Hùng. Trong khi đó thì cả hai bên đều phải tính tóan điều hơn lẽ thiệt, tìm hiểu thiện ý của nhau, thông cảm nhau hơn mới có thể thành đạt. Tóm lại đây là một cuộc đấu trí cam go, chứ không dễ dàng.

Hỏi: Việc hai bên thù địch tính chuyện hòa giải thường phải có trung gian, và khi thưong thuyết cũng cần có người chứng kiến. Ví dụ hiệp định Giơ Ne Vơ trước khi Pháp và Việt Minh ký kết, thì đã có những cuộc thảo luận, bàn cãi, mặc cả kéo dài nhiều tháng. Vậy trong việc ông Nhu tiếp xúc với đại diện của Hà Nội, ngòai các nhà lãnh đạo Pháp quốc ra như Tổng Thống De Gaulle và ông Pinay ra có còn nước nào biết không?

Đáp:
Theo Tiến sĩ Ellen Hammer, tác giả cuốn A Death In November, thì trong buổi tiếp tân ra mắt của tân ngọai trưởng Trương Công Cừu vào cuối tháng 8 năm 1963, ông Nhu đã tiếp xúc với trưởng đòan Balan trong ủy hội Quốc Tế Kiểm Sóat Đình Chiến (ICC) là luật sư Mieczyslaw Maneli, lúc ấy có sự hiện diện của các đại sứ Ấn Độ, đại sứ Pháp, đại sứ Ý và đại diện Vatican. Đúng ra Maneli đã từ Hà Nội vào Saigon vào mùa xuân, trước đó khá lâu. Nhưng khi một số nhà ngọai giao, trong đó dĩ nhiên có đại sứ Pháp Lalouette, tiếp xúc được với Maneli để khuyên ông ta nên gặp ông Ngô Đình Nhu thì vụ Phật Giáo bùng nổ. Cho nên mãi đến cuối tháng 8 hai người mới có dịp gặp nhau tại buổi tiếp tân. Tiến Sĩ Hammer thuật lại rằng lúc ấy Maneli đang nói chuyện với đức cha Asta, đại diện tòa thánh Vatican, thì thấy ông Ngô Đình Nhu cũng đứng đó không xa, đức cha liền kéo Maneli đến giới thiệu với ông Nhu. Lập tức 3 nhà ngoại giao khác cùng tiến về phía họ. Đó là các ông Lalouette, đại sứ Pháp, D'Orlandi, đại sứ Ý và Goburdhun, đại sứ Ấn Độ, cũng là chủ tịch Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Sóat Đình Chiến. Tưởng cùng cần lưu ý là tân đại sứ Mỹ là ông Henry Cabot Lodge cũng có mặt trong cuộc tiếp tân này và cũng đứng cách đó không xa lắm.
Tiến Sĩ Hammer thuật lại nhiều điều trao đổi giữa hai người. Nhưng trong đó tôi chỉ chú ý tới việc ông Nhu nhấn mạnh đến mục đích đem lại hòa bình. Và trong lời đối thọai với Maneli, mà nhiều nghe được, ông Nhu thẳng thắn phê bình các chế độ thực dân, còn nhấn mạnh không chỉ phê bình người Tầu mà thôi, khiến nhiều nhà ngọai giao có mặt tự hỏi, không biết có phải ông nhắm gián tiếp đả kích cả Hoa Kỳ hay không. Còn Maneli thì hứa sẵn sàng giữ vai trò tích cực nhất. Sau đó Maneli nhận được giấy mời đến gặp ông Nhu tại dinh Gia Long vào ngày 2-9-1963. Về cuộc gặp gỡ này thì không thấy có tài liệu nào cho biết nội dung ra sao cả.

Hỏi: Có tài liệu nói Maneli có gặp ông Nhu tại nhà riêng của ông đại sứ Lalouette trong ngày 14-7-63, tức là ngày Quốc Khánh của Pháp. Ông có tin tức gì về nội dung cuộc gặp gỡ này không?

Đáp:
Tin này do tờ Jeune Afrique (Châu Phi Trẻ) loan. Nhưng chính Maneli đã phủ nhận trong tác phẩm The War Of The Vanquished (Cuộc chiến của những kẻ chiến bại). Hai người gặp nhau lần đầu trong buổi tiếp tân của Ngọai Trường Trương Công Cừu. Và lần thứ hai, cũng là lần chót, vào ngày 2-9-63 tại dinh Gia Long.

Hỏi: Về phía nhà cầm quyền miền Bắc, phản ứng của họ ra sao, và những đìều kiện họ đưa ra là gì?

Đáp:
Theo bà Hammer, tác giả cuốn A Death In November, thì khi ông Goburghun, đại sứ Ấn đi Hà Nội với tư cách chủ tịch Ủy Ban Kiểm Sóat Đình Chiến, đến gặp ông Hồ Chí Minh thì thấy ông ta chẳng những không thấy có gì ngăn cản cuộc hiệp thương với Saigon, ông ta còn bảo đại sứ Ấn: "Ngô Đình Diệm là người yêu nước theo cách của ông ta...hãy bắt tay ông ấy thay tôi, nếu gặp." Về ông đại sứ Ấn này, thì chính Maneli cũng cho rằng ông ta, cũng như dân Ấn đứng hẳn về phía anh em ông Diệm và sẽ rất buồn nếu "mất lá bài này". Cho nên Goburghun, cũng như Lalouette, tìm mọi cách để tránh đảo chính. Nhất là ông Lalouette đã nhiều lần cố thuyết phục ông Cagot Lodge, nhưng không thành công.
Khi Maneli đến Hà Nội trình bày kế họach theo sự hướng dẫn của các ông Lalouette và Goburghun, thì chỉ hai ngày sau Hà Nội đã có đáp ứng: Hà Nội sẵn sàng khởi sự thương thuyết bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, bí mật hay công khai. Bộ trưởng ngọai giao Xuân Thủy, theo chỉ thị của chủ tịch và thủ tướng sẽ sẵn sàng trình lên một danh sách những hàng hóa có thể trao đổi giữa hai miền. Còn điều kiện, Hà Nội chỉ cần thấy Mỹ rút khỏi miền Nam, thì sẵn sàng bàn thảo về bất cứ điều gì ?

Hỏi: Về nội dung các cuộc thương thuyết, ông có tài liệu nào về tin đồn hồi ấy rằng sẽ có một chính phủ liên hiệp quốc cộng, hay một thứ liên bang Đông Dương không?

Đáp
: Theo tôi, có lẽ tin đồn này phát xuất từ báo cáo của Maneli. Trong cuốn sách nói trên, Maneli có viết rằng ông ta hỏi Phạm Văn Đồng trước mặt ông Hồ về một khả năng có một thứ chính phủ liên bang với miền Nam, hay một thứ chính phủ liên hiệp không, thì Phạm Văn Đồng trả lời là, mọi sự đều có thể thương lượng trên cơ sở nền độc lập và chủ quyền tối thượng của dân tộc. Mấy lời trên, tác giả Maneli đã trích dẫn báo cáo tối mật của ông ta chỉ gửi cho chính phủ CS Balan, và tòa đại sứ Liên Xô ngày 10-7-63.
Cũng về tin đồn này còn có một nguồn tin khác liên quan đến câu chuyện giữa tướng Nguyễn Khánh và trưởng nhiệm sở CIA ở Saigon lúc ấy là John Richardson. Họ bàn về một lời tuyên bố nào đó của ông Hồ Chí Minh. Người ta còn đồn rằng trong năm 1963 đã có một hội nghị tại Cam Bốt để bàn về vấn đền Liên Bang này trong hội nghị đó có đại diện của ông Hồ và đại diện của ông Nhu. Nhưng không có chi tiết gì cụ thể về những tin đồn nầy.

Hỏi: Ông có tin rằng ông Hồ được hòan tòan tự do để thương lượng mà không bị Liên Xô và Trung Cộng ngăn cản không?

Đáp:
Từ khi Khrutshchev hạ bệ Stalin rồi đưa ra 5 nguyên tắc sống chung, thì áp lực của Liên Xô trên các nước chư hầu có giảm bớt. Hơn nữa Khrutshchev đã từng đề nghị cho cả Việt Nam Cộng Hòa thời ông Diệm vào Liên Hiệp Quốc, thì có lẽ lúc ấy Liên Xô không chống việc hai miền hiệp thương với nhau, để làm giảm bớt sự căng thẳng, chẳng những giữa hai miền mà cả giữa hai khối Đông Tây nữa. Còn Trung Cộng, thì ta đã biết họ vẫn có thiện cảm với chính quyền Ngô Đình Diệm, ngay từ khi vừa thành hình. Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai đã nhiều lần đề nghị lập bang giao giữa Nam Việt và Bắc Kinh. Nhưng dầu sao thì trong vấn đề này xin để Maneli có ý kiến:
Trong báo cáo tối mật ngày 10-7-63 Maneli nói hai bên muốn có thể đi tới một thỏa hiệp mà không có sự tham dự của các đại cường. Về phản ứng của Liên Xô, Maneli trích lời của ông đại sứ nói với Maneli răng, có lý do để nghi rằng người Việt họ muốn thu xếp riêng với nhau. Còn về phía Trung Quốc, thì qua cuộc tiếp xúc với sứ quan Trung Cộng ở Hà Nội, Maneli cho rằng Trung Cộng không biết gì về cuộc tiếp xúc giữa Saigon và Hà Nội. Nhưng Maneli lại thêm rằng, hoặc giả họ biết nhưng không chấp nhận. Rồi Maneli phê một câu làm lời kết luận của chương sách dài 20 trang về cuộc gặp gỡ giữa ông với ông Ngô Đình Nhu: Xét về mặt chính trị mà nói thì việc Hà Nội hành động mà không có sự chấp thuận của Bắc Kinh là điều có ý nghĩa nhất.

Hỏi:
Điều này đối với tôi hơi khó tin. Theo tôi nghĩ, chẳng những Trung Cộng mà cả đàn em của ông Hồ cũng không thể chấp nhận cho ông ta tự ý thương lượng với chính quyền Miền Nam. Không biết ông có tin là ngòai hai bản di chúc ông Hồ để lại, được nhà cầm quyền Hà Nội công bố, còn có một bản di chúc ông ấy viết tay không? Trong bản di chúc này, mà người ta bảo đã đựoc giảo nghiệm tự dạng thì chắc chắn là của ông Hồ thật. Trong bản di chúc này ông Hồ có nói đến việc ông có một cô con gái với một người Pháp và về việc ông tính chuyện thương lượng với ông Ngô Đình Diệm, và vì vậy ông đã bị nhóm Lê Duẫn hiếu chiến hãm hại, từ đó về sau mất hết quyền hành.

Đáp
: Tôi cũng có nghe nói đến bản di chúc viết tay này rồi cũng đi tìm đọc thì thấy không đáng tin lắm. Tôi cũng có hỏi mấy cựu cán bộ cao cấp Cộng Sản ở hải ngọai thì họ cũng nói có biết có một di chúc như vậy, nhưng văn phong không phải của ông Hồ. Theo tôi nghĩ, muốn kiểm chứng xem đây có phải là di chúc thật hay không, nên tìm người con gái của ông Hồ để hỏi cho ra lẽ. Nhưng tôi nghĩ, nếu bà ấy còn sống, nay cũng đã ngòai 90 rồi. Tiếc rằng những người đưa bản di chúc này ra trên báo, đã không trưng dẫn được xuất xứ đáng tin cậy. Vì vậy rất khó tin. Riêng chúng tôi vẫn nghĩ ông Hồ vẫn còn đầy đủ quyền lực vào những năm cuối đời. Trong cuốn Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp chúng tôi đã để hẳn một chương để chừng minh điều đó.

Hỏi: Hiệp thưong từng đã là một cạm bẫy làm cho các đảng phái quốc gia hồi 1945 sa vào mà trở thành thân bại danh liệt, khiến đa số bị hại hay phải chạy trốn sang Tầu. Ông có nghĩ anh em ông Diệm có tài để không mắc bẫy không?

Đáp
: Ông Diệm đã không sa bẫy lúc ấy. Các ông Hùynh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đòan, Phan Kế Tọai đều nghe lời dụ dỗ của ông Hồ ra hợp tác. Các đảng phái quốc gia như Việt Quốc, Việt Cách của các ông Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần v.v... đều mắc bẫy tham gia chính phủ liên hiệp và nhận 70 ghế ở quốc hội mà không được bầu. Nhưng như tôi từng viết chỉ có ông Diệm không mắc bẫy. Chính Hồ Chí Minh đã mời ông Diệm giữ chức bộ trưởng Nội Vụ mà bị ông Diệm từ chối thẳng thừng, trong lúc đang ở trong tay sinh sát của ông Hồ. Đó là trước kia, lúc ông ở vào cái thế thập tử nhất sinh, hòan tòan trong tay ông Hồ, mà ông còn không nhượng bộ để mắc bẫy. Còn bây giờ ông Diệm đã có một nửa nước phồn thịnh và hùng mạnh hơn ông Hồ. Nếu có hiệp thương là hiệp thương ở thế mạnh, thì sao lại phải sợ. Hơn nữa bất cứ một cuộc xung đột vũ trang hay chính trị nào cũng đều phải đi tới một cuộc thương thuyết để chấm dứt xung đột. Đặc biệt là cuộc xung đột giữa ý thức hệ CS một bên, và bên kia là thế giới tự do, cuộc xung đột bao trùm khắp hòan vũ cũng đã kết thúc bằng một lọat những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc và thương thuyết giữa các nhà lãnh đạo hai bên. Thì lúc ấy dù bên nào đi bước trước để mở đường cho một giải pháp chính trị cũng đều đáng hoan nghênh.

Tuy nhiên cũng phải thú thực rằng có nhiều người coi việc ông Hồ tặng ông Ngô Đình Diệm cành đào dịp xuân Qúy Mão (1963) cũng tương tự như Vương Dõan, trong truyện Tam Quốc, tặng cho Đổng Trác con hát ả đào Điêu Thuyền, khiến Lữ Bố vì ghen mà giết cha nuôi. Họ cho rằng cành đào tượng trưng và mở đầu cho những cuộc tiếp xúc giữa hai miển đã làm cho người Mỹ ra tay hạ ông Diệm. Nhưng riêng tôi không nghĩ thế.

Hỏi:
Nhiều sử gia Mỹ cho rằng ông Nhu tiếp xúc với Bắc Việt là cố ý làm "săng ta" với Mỹ, khi thấy áp lực của Mỹ quá nặng. Ông có nghĩ như vậy không?

Đáp
: Nếu chỉ nhìn vào những diễn biến trong mấy tháng giữa năm 1963, thì suy đóan như thế cũng có lý. Nhưng thực ra người Mỹ đã muốn thay ông Diệm hay ít nhất cố làm áp lực để đưa ông Nhu ra ngọai quốc từ lâu trước đó. Và hai anh em Tổng Thống Diệm cũng đã có những toan tính về một kế họach hòa bình qua những cuộc tiếp xúc ngọai giao được bộc lộ từ năm 1962 trước kia rồi. Người Mỹ muốn hạ ông Diệm, không phải vì ông đàn áp Phật Giáo, cũng không phải vì ông định đi đến một giải pháp với Bắc Việt. Mà theo tôi nghĩ, lý do chính họ muốn hạ ông Diệm vì ông không đồng ý cho họ đem quân ồ ạt vào Việt Nam. Ông Diệm muốn dần dần tiến tới hiệp thương với Bắc Việt chỉ vì muốn tìm kiếm cho nhân dân Việt Nam một nền hòa bình, dù tạm thời và giới hạn chăng nữa, còn hơn là càng ngày càng dấn sâu vào một cuộc chiến mỗi lúc một thêm ác liệt. Nhất là khi mà số người ngọai quốc càng ngày càng gia tăng mãi, như từ 1962.

Minh Võ

 

 

 

 

 Bài 31

RA LỆNH ĐẢO CHÍNH

Tú Gàn

Nguyễn Cần bút hiệu Tú Gàn

 

........lệnh đảo chánh lật đổ ông Diệm đã được Washington ban hành ngày 24.8.1963 dưới hình thức một công điện mang tên Deptel 243. Tuy nhiên, trước khi trình bày vấn đề này, chúng tôi xin xác định rằng chúng tôi không viết bài này để bênh vực cho ông Diệm hay bôi đen ông Diệm như một số người đang làm. Chúng tôi chỉ cố gắng trình bày những sự thật lịch sử để rút kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh của chúng ta hiện nay và cho các thế hệ kế tiếp

Trong tuần này chúng tôi xin đề cập đến một vấn đề đã từng gây tranh luận sôi nổi, đó là lệnh đảo chánh lật đổ ông Diệm đã được Washington ban hành ngày 24.8.1963 dưới hình thức một công điện mang tên Deptel 243. Tuy nhiên, trước khi trình bày vấn đề này, chúng tôi xin xác định rằng chúng tôi không viết bài này để bênh vực cho ông Diệm hay bôi đen ông Diệm như một số người đang làm. Chúng tôi chỉ cố gắng trình bày những sự thật lịch sử để rút kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh của chúng ta hiện nay và cho các thế hệ kế tiếp. Những sự thật đó có  thể làm cho nhiều người cảm thấy ông Diệm đen hơn hay trắng hơn, nhưng đó không phải là mục tiêu của chúng tôi.

COI MIỀN NAM NHƯ THUỘC ĐỊA MỸ


Cảm tưởng đầu tiên của chúng tôi khi đọc Công Điện mang số Deptel 243 và các tài liệu tiếp theo của chính phủ Hoa Kỳ là Washington đã coi miền Nam như là một thuộc địa của Mỹ.   Nước Pháp ngày xưa khi đến đô hộ miền Nam và “bảo hộ” miền Bắc và Miền Trung Việt Nam đều có ký hiệp ước với Triều Đình Huế. Đến năm 1887, Pháp hợp Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên lại thành Liên Bang Đông Dương (Union Indochinoise) do một Toàn Quyền Đông Dương (Gouverneur Général de l’Indochine) ở Hà Nội cai trị và đặt dưới quyền của Bộ Thuộc Địa (Minstère des Colonies).

Các quan lại ở tỉnh đều đặt trực thuộc một Công Sứ (Résident) Pháp.  Đầu năm 1956, do áp lực của Mỹ, Pháp đã phải ký thỏa ước với Việt Nam rút hết Quân Đội Pháp khỏi miền Nam trước ngày 30.6.1956. Nhưng đến ngày 25.4.1956, Quân Đội Pháp đã rút hết khỏi miền Nam. Ngày 26.4.1956 Pháp tuyên bố bãi bỏ chức Cao Ủy Đông Dương và ngày 28.4.1955 tuyên bố giải tán Bộ Tư Lệnh Pháp tại Đông Dương. Người Mỹ âm thầm vào thay Pháp.

Tuy chính phủ Mỹ không hề ký với các chính phủ Việt Nam một hiệp ước nào về “quyền bảo hộ” như chính phủ Pháp đã ký trước đây, nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã tự động biến thành Bộ Thuộc Địa để áp đặt mọi chính sách và đường lối lên trên miền Nam và Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn nghiễm nhiên trở thành Toàn Quyền Đông Dương hay Cao Ủy Mỹ tại Đông Dương, thường được người Việt gọi là “Quan Thái Thú”. Các Lãnh Sự Mỹ ở tỉnh cũng đóng vai trò của các Công Sứ Pháp. Một số tướng lãnh miền Nam đã tình  nguyện làm lính Khố Xanh (Gardes Indigènes) hay lính Khố Đỏ (Tiraillrers) cho Mỹ. Trạm CIA (CIA Station) của Mỹ tại Sài Gòn đã hoạt động gióng hệt Sở Mật Thám hay Sở Liêm Phóng Đông Dương (Service de Sûreté Généralle de l’Indochine) của Pháp ngày xưa! Chúng tôi xin nhắc lại: Năm 1963, khi tiếp Đại Sứ Frederick Nolting, ông Diệm có nói: “Chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ.”

TẠO LÝ DO ĐỂ RA LỆNH ĐẢO CHÁNH


Như chúng tôi đã nói ở số trước, nhân vụ Phật Giáo xẩy ra ở Huế, các viên chức tình báo Mỹ đã sắp xếp vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức vào ngày 11.6.1963, sau đó ngày 18.8.1963 bảo một số tướng lãnh Việt Nam vào Dinh Gia Long xúi ông Diệm ban hành lệnh giới nghiêm, lục xét các chùa và bắt các tăng ni..., để đưa sự căng thẳng của tình hình lên cao độ, rồi ngày 24.8.1963 ra lệnh đảo chánh. Kế hoạch xúi giục ông Diệm ban hành lệnh giới nghiêm và xét chùa này đã được nghiên cứu rất tinh vi nên ông Diệm không thể không trúng kế được.

Sau khi thực hiện xong vụ xét chùa ở Sài Gòn, Tướng Tôn Thất Đính có làm một báo cáo chi tiết gởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, còn một số tướng lãnh Việt Nam đã đến trình cho các “Quan Thầy”. Tướng Trần Văn Đôn trình cho đại diện CIA ở Sài Gòn và Tướng Harkins, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân Sự Mỹ tại Việt Nam (MACV). Tướng Lê Văn Kim đến mách với ông Rufus Phillips, Giám Đốc cơ quan USOM, và Tướng Trần Thiện Khiêm báo cáo cho Trưởng Lưới CIA Lucien Conein. Ngoài ra, còn có nhiều báo cáo riêng của CIA.

Những tài liệu này gồm vài trăm trang, chúng tôi chỉ xin tóm lược những nét chính. Chiều ngày 18.8.1963, 10 tướng đã về họp tại Bộ Tổng Tham Mưu để bàn về tình hình: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Kim và Dương Văn Minh (còn tên một tướng chưa được giải mã). Trong số các tướng này, có cả những tướng đang bất bình với ông Diệm và muốn ông Diệm sụp đổû càng nhanh càng tốt, như Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân và Nguyễn Ngọc Lễ.

1.- Ai đã triệu tập cuộc họp này? Báo cáo của trạm CIA ở Sài Gòn vào lúc 6 giờ 45 chiều ngày 24.8.1963 nói rằng Tướng Đôn không cho biết ai đã triệu tập cuộc họp chiều 18.8.1963. Nhưng ai cũng biết chỉ có Tướng Khiêm mới triệu tập được cuộc họp này, vì lúc đó Tướng Khiêm đang làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân, vừa được ông Diệm cử Xử Lý Thường Vụ Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế Tướng Lê Văn Tỵ được Mỹ đưa qua Hoa Kỳ chữa bệnh vào ngày 27.7.1963 vì ung thư phổi. Đây là một phương cách tạo sự vắng mặt của Tướng Tỵ cho các tướng của CIA đễ dàng thực hiện kế hoạch được đưa ra.

Theo Tướng Trần Văn Đôn, đáng lẽ ông Diệm phải cử ông hay Tướng Dương Văn Minh giữ chức vụ Qưyền Tổng Tham Mưu Trưởng, nhưng ông Diệm đã cử Tướng Trần Thiện Khiêm, vì tin Tướng Khiêm hơn ông. Tướng Đôn cũng đã từng cho biết, trong cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960, Đại Tá Khiêm đã đưa quân về Sài Gòn chống đảo chánh theo lệnh của ông Diệm và trong lúc mới đến Sài Gòn, Đại Tá Khiêm có tiếp xúc với Đại Sứ Mỹ và Tướng Mỹ McGarr, người cầm đầu MACV, hai nhân vậy Hoa Kỳ này không hoàn toàn ủng hộ ông Điệm, nhưng khuyên  “không nên lật đổ hẵn ông Diệm, chỉ cho ông ấy một bài học như thế là đủ rồi.” Sự kiện này cho thấy Tướng Khiêm đã hành động theo lệnh của Mỹ. Sau cuộc họp nói trên, phái đoàn tướng lãnh do Tướng Trần Văn Đôn cầm đấu, đã đến gặp ông Ngô Đình Nhu ở Dinh Gia Long yêu cầu áp dụng các biện pháp mạnh để ổn định tình hình.

2.- Có dấu hiệu đáng nghi ngờ: Nhìn thành phần các tướng lãnh đến đề nghị biện pháp cứu chế độ, ông Nhu đã tỏ vẻ nghi ngờ ngay. Ông bảo các tướng muốn gì thì về viết tờ trình Tổng Thống. Ông Nhu tỏ vẻ nghi ngờ là đúng: Đại Tướng Dương Văn Minh, ngoài tội biển thủ vàng tịch thu được của Bình Xuyên, còn để cho người em ruột là Thiếu Tá VC Dương Văn Nhựt từ Bắc vào Nam qua ngã Cam-bốt, ẩn nấp trong nhà Tướng Minh để hoạt động, nên ông Diệm phải cho Tướng Minh ngưng giữ chức Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Hành Quân và về làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ ngồi chơi xơi nước.  Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân lúc đầu rất được ông Diệm tin cậy, nhưng khi được cử làm Tư Lệnh Miền Đông để dẹp phiến loạn, đã lợi dụng quyền hành, bán các rừng miền Đông cho Ba Tàu khai thác gỗ nên bị đưa về làm Giám Đóc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.   Thiếu Tướng Lê Văn Kim khi làm Chánh Văn Phòng cho ông Hồ Thông Minh, Tổng Trưởng Quốc Phòng, đã cố vấn cho ông Minh đứng ra lệnh cho Quận Đội dẹp loạn Bình Xuyên, nên không được ông Diệm tin dùng, và chỉ cho làm Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia.

Năm 1955, Tướng Nguyễn Ngọc Lễ, một người rất được ông Diệm tín nhiệm, đã được cử làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát và Công An thay thế Lai Văn Sang của Bình Xuyên. Nhưng mới làm được một thời gian ngắn, bị Trần Bá Thành gài “ghế” nên bị mất chức.  Với những thành phần đang bất mãn với chế độ như thế này mà kéo nhau tới bàn biện pháp “cứu chế độ”, quả thật đáng nghi ngờ!

3.- Ông Diệm bị trúng kế: Ngày 20.8.1963, Tướng Trần Văn Đôn và các tướng khác đã đem vào cho ông Nhu một thỉnh nguyện thư có chữ ký của các tướng lãnh yêu cầu ban hành tình trạng giới nghiêm và kế hoạch hành quân lục xét các chùa, bắt các tăng sĩ đến từ ngoài Sài Gòn về lại các tỉnh và chùa của họ.  Ông Nhu bảo họ vào thảo luận với Tổng Thống. Ông không hiện diện trong cuộc thảo luận này. Các tướng có mặt trong cuộc thảo luận đó gồm có Trần Thiện Khiêm, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Tôn Thất Đính (gần một hàng chưa được giải mã) Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim.  Tướng Đôn cho biết khi gặp Tổng Thống, các tướng nói với Tổng Thống rằng tinh thần của quân đội đang xấu hơn (detoriorating) và trong thực tế họ sợ rằng một đồn quân sự ở trong tình trạng gần như đào ngũ (near state of desertation). Các tướng nói rằng vợ các binh sĩ và các sĩ quan trẻ đang tức giận. Họ giải thích cho Tổng Thống tình hình như là quân đội thấy họ phải đối đầu với Phật Giáo. Tướng Đôn xác nhận ông nói với Tổng Thống rằng vụ 8 tháng 5 ở Huế có thể được giải quyết, nhưng Việt Cộng đã xâm nhập vào Phật Giáo trong chùa Xá Lợi (Don claims he told Diem that 8 May in Hue could have been settled but that the VC has penetrated Buddhists in Xa Loi Pagoda.)

Tướng Đôn kể lại các chiến thuật được dùng trong cuộc biểu tình ngày 11 tháng 8 khi Thích Tâm Châu diễn thuyết trước đám đông tại chùa Xá Lợi. Tâm Châu đã làm say mê đám đông với các câu hỏi như là “chúng ta sẽ xuống đường”? Đàm đông đã trả lời “vâng”. Đột nhiên Tâm Châu nói “không, chúng ta không xuống đường. Sự việc quý vị nói quý vị sẽ xuống đường cũng gióng như quý vị đang xuống đường.” Tướng Đôn cảm thấy rằng cái ông sư nói tiếng Anh, Thích Đức Nghiệp, rất là nguy hiểm và các tướng sợ rằng nếu các nhà lãnh đạo tập họp được một đám đông lớn, họ có thể ra lệnh đi tới Dinh Gia Long và quân đội không thể ngăn chặn họ. Hình như các tướng đến gặp ông Diệm để bàn kế hoạch xét chùa hôm đó đã học thuộc lòng những lời lẽ được soạn sẵn mà họ sẽ đưa ra để thuyết phục ông Diệm, vì theo khả năng, họ khó nói được những lời đó một cách lưu loát như vậy.

Tướng Đôn cho biết, theo sự khuyến cáo của các tướng lãnh, Tổng Thống đã quyết định ban hành tình trạng giới nghiêm (martial law). Ông Diệm quyết định đưa quân đội vào chiếm các điẻm chiến lược ở Sài Gòn - Chợ Lớn và chấp nhận khuyến cáo đưa các nhà sư từ ngoài Sài Gòn về lại các tỉnh và chùa của họ. Tuy nhiên, ông Diệm nhấn mạnh không ai được động đến các nhà sư (President insisted however that none of the brozes be hurt).

Chiều 20.8.1963 Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ban hành Sắc Lệnh số 84/TTP “tuyên bố tình trạng giới nghiêm trên toàn lãnh thổ Việt Nam kể từ ngày công bố Sắc Lệnh này cho đến khi có lệnh mới”

(Điều 1). Điều 2 quy định: “Luật lệ nào xét ra cần ngưng thi hành sẽ được tuyên bố tạm đình chỉ áp dụng.” Điều 3 nói rất rõ: “Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa chịu trách nhiệm hoàn toàn về an ninh công cộng, và để đạt tới mục đích ấy, có quyền trong suốt thời gian giới nghiêm, xét các tư gia bất cứ lúc nào, bắt giữ những người xét có hại cho  an ninh công cộng, v.v.

4.- Công việc xét chùa: Sau khi có lệnh giới nghiêm, quyền bảo vệ an ninh trật tự trên toàn quốc được chuyển giao từ nhà chức trách hành chánh (tỉnh và thị trưởng) qua nhà chức trách quân sự với chức vụ Tổng Trấn (Governor). Tại Đô Thành Sài Gòn, Tướng Tôn Thất Định, Tư Lệnh Quân Đoàn III kiêm Tổng Trấn Sài Gòn - Gia Định. Tại Thừa Thiên - Huế, Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 là Tổng Trấn Thừa Thiên - Huế.

Vì sợ bị tiết lộ, các cuộc xét chùa đã được thực hiện ngay trong đêm 20 rạng ngày 21.8.1963 và do các Tổng Trấn đích thân chỉ huy. Có tất cả 14 chùa trên toàn quốc đã bị xét, đa số ở Sài Gòn và Huế. Lực lượng được xử dụng là Cảnh Sát, Bảo An và Quân Đội. Mặc dầu quyền bảo vệ an ninh và trật tự được chuyển qua quân đội, nhưng theo luật, chỉ có cảnh sát tư pháp mới có quyền xét hỏi, lập vi bằng và bắt giữ các nghi can. Quân đội chỉ yểm trợ chứ không có quyền thực hiện các hành vi đó.

Công cuộc xét chùa tại Sài Gòn do Tướng Tôn Thất Đính đích thân chỉ huy gồm các lực lượng sau đây: 2 đại đội
thuộc Liên Đoàn 31 của Lực Lượng Đặc Biệt, một Đại Đội 16 Bảo An và Lực Lượng Cảnh Sát của Cảnh Sát Quốc Gia. Việc lục xét bên trong đều do cảnh sát phụ trách đúng theo luật. Các lực lượng khác chỉ yểm trợ bên ngoài. Tướng Trần Văn Đôn còn cho biết thêm Quân Đội đã xử dụng một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và một tiểu đoàn Dù bảo vệ vòng ngoài.

Tuy lệnh xét chùa được đưa ra bất ngờ, nhưng CIA đã báo cho các chùa sắp bị tấn công biết trước để lập hệ thống phòng thủ chống lại Cảnh Sát. Tại hai chùa Xá Lợi và Ấn Quang ở Sài Gòn và chùa Từ Đàm ở Huế, Cảnh Sát phải dùng lựu đạn cay mới giải tỏa được và bị thương khá nhiều. Trong Phiếu Trình mang số 0289/QĐIII/VPTL ngày 22.8.1963 gởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tướng Tôn Thất Đính cho biết số tăng ni và thường dân bị bắt: 292 sư sãi và 197 ni cô; 73 nam Phật tử và 31 nữ Phật tử; 128 nam học sinh và 5 nữ học sinh. Tổng số bị bắt là 728 người.

Nhân viên an ninh khám phá ra tại bức tường ngăn giữa chùa Xá Lợi với cơ quan USOM của Mỹ ở phía sau có một lổ lớn đã được đục sẵn và được che bằng một cái tủ chè. Nhân viên an ninh tin rằng Thượng Tọa Thích Trí Quang và một cảnh sát bị sa thải đội lốt nhà sư mang tên Thích Nhật Thiện đã chiu lỗ này qua cơ quan USOM rồi từ đó được đưa tới Tòa Tại Sứ Hoa Kỳ ở đường Hàm Nghi, nhưng các viên Hoa Kỳ đã phủ nhận chuyện này.

Một điều đã làm Tướng Đôn lo lắng là Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ loan tin Quân Đội VNCH lục xét các chùa và bắt các sư sãi. Điều này sẽ làm mất uy tín của Quân Đội. Vì thế, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã công khai chỉ thị cho Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn cải chánh, bảo đổ tội cho Ngô Đình Nhu, Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung. Chúng tôi sẽ trở lại trò ma giáo này sau.

Tin chính phủ Ngô Đình Diệm cho lục xét các chùa và bắt các sư sãi được các ký giả Mỹ loan đi gây xúc động trên thế giới, nhất là tại các quốc gia Phật Giáo. Dựa vào đó, ngày 24.8.1963, Washington ra lệnh làm đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

NHÓM CHỦ TRƯƠNG ĐẢO CHÁNH


Trong cuốn hồi ký “In Retrospect, Tragedy and Lesson of Vietnam”, ở Chương IIIù, dưới tiêu đề “The Fateful Fall of 1963” (Mùa Thu Định Mệnh Năm 1963), từ 24 tháng 8 đến 22.11.1963, ông Robert S. McNamara đã trình bày khá rõ ràng về quyết định của Washington lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm. Ông viết:

“Khi báo cáo về tình trạng xáo trộn tới tấp gởi về Hoa Thịnh Đốn vào ngày 24 tháng 8, các nhân viên có nhiệm vụ ứng trực nhận thấy rằng cơ hội để có hành động chống lại ông Diệm đã đến. Trong đêm đó Hoa Kỳ đã đề ra một kế hoạch đảo chánh, một hành động trong số những hành động quan trọng nhất của hai trào Tổng Thống Kennedy và Johnson.  “Người khởi xướng hành động này là Roger Hilsman Jr., nhân vật kế nhiệm Averell Harriman, giữ chức Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Viễn Đông Vụ. Hilsman là một người thông minh, hay tự ái và thích nói nhiều, tốt nghiệp trường võ bị West Point, từng có kinh nghiệm về du kích chiến trong thời Đệ Nhị Thế Chiến và khá am tường về tình hình. Ông này cho rằng cuộc chiến không thể thắng được nếu còn ông Diệm, vì thế phải tìm cách gạt ông ta ra."

“Sau khi Roger Hilsman hoàn thành bức công điện, trong ngày 24 tháng 8, Averell Harriman, người vừa được trở thành Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Về Chính Trị Vụ, chấp thuận ngay. Michael Forrestal, con của Bộ Trưởng Quốc Phòng đầu tiên và là một thành viên của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, đã gởi ngay công điện đó cho Tổng Thống Kennedy đang ở Hyamis Port, nói “Đã được sự chấp thuận của Ball (George Ball, Thứ Trưởng Ngoại Giao) và Bộ Quốc Phòng... Đề nghị cho tôi biết nếu Tổng Thống muốn... hoản hành động.”

“Bức công điện của những người chủ trương được quyết định gởi cho Sài Gòn ngay trong ngày hôm đó. Họ gặp ông George Ball ở sân golf và yêu cầu ông gọi cho Tổng Thống ở Cap Cod. Ông Ball đã gọi và Tổng Thống Kennedy trả lời rằng ông đồng ý công điện gởi đi nếu các cố vấn của ông cũng đồng ý như vậy. Ông Ball liền gọi cho Ngoại Trưởng Dean Rusk tại New York báo tin Tổng Thống đã chấp thuận. Ngoại Trưởng Rusk tán thành mặc dầu ông ta không nhiệt tình. Trong khi đó, Harriman tìm cách để được sự đồng ý của CIA. Bởi vì ông John McCone (Giám Đốc CIA) vắng mặt, ông ta nói chuyện với ông Richard Helms, Phó Giám Đốc. Helms miễn cưởng (reluctant), nhưng, cũng như Ngoại Trưởng Rusk, ông đi theo vì Tổng Thống đã đồng ý như vậy.”

NGUYÊN VĂN LỆNH ĐẢO CHÁNH


Lệnh đảo chánh mang tên DEPTEL 243, còn được gọi là “Department Telegram or Telegram 243” hay gọi tắt là Cable 243, gởi cho Đại Sứ Cabot Lodge ở Sài Gòn . Toàn văn công điện này vì mới được giải mã ngày 20.4.1998 dưới số JFK 177-10001-10454 nên toàn văn chưa được công bố trong bộ Vietnam Relations of the United States của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Chúng tôi xin tạm dịch toàn văn công điện này.

Bức điện mở đầu bằng sự lên án các hành động của ông Ngô Đinh Nhu và coi ông Nhu như một cái cớ, một cái mũi dùi để mở cuộc tấn công chính phủ Ngô Đình Diệm:

“Rõ ràng là cho dù giới quân sự có đề nghị thiết quân luật hay Nhu đã lừa họ làm vậy, Nhu đã lợi dụng chuyện này để tấn công các chùa chiền với cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Tung (Đại Tá Lê Quang Tung) trung thành với ông ta, điều 8đó đặt trách nhiệm (onus) lên trên quân đội trong con mắt của thế giới và dân chúng Việt Nam. Cũng rõ ràng là chính Nhu đã âm mưu nắm quyền lãnh đạo.  “Chính phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận tình trạng Nhu nắm quyền. Diệm phải được cho cơ hội để loại bỏ Nhu và nhóm của ông ta (his coterie) và thay thế họ bằng những nhân vật quân sự và chính trị tốt nhất sẵn có. Nếu, mặc dầu đã có tất cả những cố gắng của quý ông, Diệm vẫn tỏ ra ngoan cố và từ chối, lúc đó chúng ta phải đối phó với khả năng chính Diệm không có thể được duy trì.  Bây giờ chứng ta tin rằng phải có những hành động ngay lập tức để ngăn ngừa Nhu củng cố vị thế của ông ta xa hơn. Vì thế, trừ khi trong khi tham khảo với Harkins ông nhận được những sự phản đối quyết liệt, ông được quyền tiến hành những đường lối sau đây:

(1) Trước hết, ông phải áp lực trên các cấp bậc thích hợp của Chính Quyền Việt Nam điểm sau đây:
(a) Chính Phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận các hành động chống lại Phật Giáo do Nhu và các cộng sự của ông ta thực hiện nấp dưới lệnh giới nghiêm.
(b) Mọi hành động bi thảm tạo nên tình hình phải được chấm dứt, bao gồm cả việc hủy bỏ dụ số 10, phóng thích các tăng ni đã bị bắt, v.v.


(2) Cùng một lúc chúng ta cũng phải nói với các nhà lãnh đạo quân sự then chốt rằng Hoa Kỳ nhận thấy không thể tiếp tục ủng hộ Chính Phủ Việt Nam về quân sự và kinh tế trừ khi các biện pháp nói trên được thi hành ngay, trong đó chúng ta yêu cầu phải loại Nhu ra khỏi chức vụ. Chúng ta muốn cho Diệm một cơ hội vừa phải để loại bỏ Nhu, nhưng nếu ông ta vẫn cứ ngoan cố, lúc đó chúng ta phải chuẩn bị để chấp nhận sự hàm ý rằng chúng ta không thể ủng hộ Diệm nữa. Ông cũng nên nói với các nhà lãnh đạo quân sự thích hợp rằng chúng ta sẽ dành cho họ sự ủng hộ trực tiếp trong bất cứ giai đoạn chuyển tiếp nào sau khi phá đổ guồng máy chính quyền trung ương.


(3) Chúng ta công nhận sự cần thiết phải loại bỏ vết dơ trên quân đội trong việc tấn công các chùa và đặt điều tai tiếng đó cho chính Nhu. Ông được quyền đưa ra lời tuyên bố đó tại Sài Gòn khi ông nhận thấy thích hợp cho việc hoàn thành mục tiêu này. Ở đây chúng tôi cũng đã soạn thảo về những điểm như thế và ra lệnh cho Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đưa ra lời tuyên bố những điểm tương tự được ghi trong điện tín gần đây bất cứ lúc nào ông đưa ra lời tuyên bố thích hợp càng sớm càng tốt.  Song song với điều trên, ông Đại Sứ nên cùng với đồng sự xét xem gấp tất cả những người có thể lãnh đạo khác và phác thảo một kế hoạch chi tiết làm thế nào để chúng ta có thể thay thế Diệm nếu điều này trở nên cần thiết.”  Mong ông tham khảo với Tướng Hatkins về những đề phòng cần thiết để bảo vệ cá nhân người Mỹ trong giai đoạn có cuộc khủng hoảng. Ông sẽ hiểu rằng chúng tôi không thể từ Washington cho ông những chỉ thị chi tiết như làm thế nào để hoạt động này có thể được xúc tiến, nhưng ông cũng biết rằng chúng tôi sẽ yểm trợ ông hoàn toàn (we will back up you to the hilt) và các hành động mà ông thực hiện để hoàn thành mục tiêu của chúng ta.  Cần phải nói rằng chúng tôi giữ cho sự biết đến bức điện tín này trong những người chính yếu tối thiểu và mong rằng ông cũng thận trọng như vậy để tránh những sự tiết lộ sớm.

NHỮNG GIAN TRÁ CỦA CÔNG ĐIỆN


Có thể nói đây là một công điện xảo trá về cả hình thức lẫn nội dung.

1.- Gian trá về hình thức: Mặc dầu là một văn kiện rất quan trọng nói lên chính sách của một quốc gia đối với một quốc gia, nhưng nó không được đưa ra thảo luận trước khi quyết định. Nó được soạn sẵn rồi thông báo cho Tổng Thống!   Người ký công điện gởi đi không phải là Ngoại Trưởng Dean Rusk mà là Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball. Dưới trang đầu có ghi rõ công điện này do Roger Hilsman Jr., Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Viễn Đông Vụ soạn thảo, và được Averell Harriman, Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Về Chính Trị Vụ chấp thuận. Công điện đã được Hilsman, Forrestal và Ball thông qua.

Trong cuốn hồi ký “Swords and Plowshares", Đại Tướng Maxwell D. Taylor, Chủ Tịch Ban Tham Mưu Liên Quân thời Tổng Thống Kennedy, cho biết khi tình hình lộn xộn xẩy ra tại Sài Gòn, một nhóm hoạt động chống Diệm (a small group of anti-Diem activists) đã nắm lấy cơ hội, xử dụng “mánh mung lẫn tránh” (end run) để vượt qua bằng cách soạn thảo một cách vội vàng một công điện tối quan trọng đối với Sài Gòn không cần có sự đồng ý thông thường của Bộ.

2.- Lý do viện dẫn để ra lệnh đảo chánh: Công điện bảo rằng “không thể chấp nhận các hành động chống lại Phật Giáo do Nhu”, nhưng như chúng tôi đã trình bày ở trên: Chính cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã lợi dụng vụ Phật Giáo, đưa ra các biện pháp ma giáo như vụ Hòa Thượng Quảng Đức và xét chùa để làm cho tình hình trở nên nghiêm trọng hơn rồi căn cứ vào đó ra lệnh đảo chánh. Tất cả đều co CIA tạo ra.

Về mục tiêu đấu tranh của Phật Giáo, CIA cũng đã nhận ngay ra từ đầu: Cuộc tranh đấu đó nhắm mục tiêu chính trị chứ không phải tôn giáo. Trong một công điện đề ngày 17.8.1963, trước ngày lục xét các chùa, (mới được giải mã), Trạm CIA tại Sài Gòn đã báo cho CIA trung ương biết như sau:

“Các lãnh đạo Phật Giáo rất lạc quan rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm có thể bị lật đổ trong 6 tháng và được tổ chức cho một cuộc tranh đấu trong nhiều tháng. (Buddhist leaders were optimistic that president Ngo Dinh Diem could be overthrown within six monts and were organized for a struggle of several monts). Các tăng ni được chỉ thị về các vấn đề chính trị và việc tổ chức các học sinh trung học và sinh viên đại học đã được nhấn mạnh.

“Thích Thiện Minh, Phó Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam (GAVB) tại Trung Phần, Việt Nam, và Thích Trí Quang, Chủ Tịch GAVB ở Trung Phần, cả hai mạnh mẽ chống trung lập, đã soạn thảo một danh sách sơ khỏi những ngưới họ muốn thấy có mặt trong chính phủ nếu ông Diệm bị lật đổ, trong đó có cả Phan Khắc Sửu...” (a tentative list of men who they would like to see in the goverment if Diem were overthrown, it included Phan Khac Sưu...).  Với công điện này, CIA đã nhận ra rằng nhóm Phật Giáo đấu tranh có nhiều tham vọng chính trị, đang nấp dưới danh nghĩa tôn giáo và dùng bạo loạn để cướp chính quyền, nhưng CIA cứ phớt lờ đi, đợi lật xong ông Diệm rồi thanh toán sau.

3.- Lý do đích thực của cuộc đảo chánh được che giấu: Ông Frederick Nolting, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa, ghi rõ trong cuốn “From Trust to Tragedy” như sau:

“Âm mưu “trung lập hóa” Lào của ông ta (Harriman) là một sự thất bại thê thảm, và sự thù nghịch ngày càng gia tăng của ông với Tổng Thống Ngô Đình Diệm và gia đình của ông ta, trở thành một yếu tố chủ yếu trong việc lật đổ ông Diệm. Tuy nhiên, thanh thế và ảnh hưởng của Harriman ở Washington lớn đến nổi trở thành quyết định trong các hành động cốt yếu mà chính phủ chúng ta đã thực hiện trong năm 1963.”

4.- Ra lệnh cho Tòa Đại Sứ nói dối: Mặc dầu cuộc lục xét 14 chùa trên toàn quốc trong đêm 20 rạng ngày 21.8.1963 đều do các tư lệnh quân đội tại địa phương chỉ huy trực tiếp, các đơn vị quân đội được dùng để yểm trợ..., trong công điện nói trên, Bộ Ngoại Giao đã chỉ thị cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn phải đặt điều tai tiếng đó cho chính Nhu (and placing blame squarely on Nhu). Bộ Ngoại Giao đã soạn sẵn lời cải chánh và cùng một lúc vừa gởi cho ông Lodge vừa gởi cho đài VOA để khi ông Lodge lên tiếng tại Sài Gòn thì đài VOA cũng đưa ra đọc!

NHỮNG NGÀY KHỦNG HOẢNG


Sau khi công điện ra lệnh đảo chánh được gởi đi, nhiều cuộc họp liên tục đã được tổ chức tại Tòa Bạch Ốc để tranh luận xem có nên tiếp tục tổ chức đảo chánh hay không. Nhưng Harriman đã dùng thanh thế của mình để áp đảo và sự quyết tâm lật đổ ông Diệm của Đại Sứ Lodge đã làm cho tình hình không thể tạo ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cho vai trò của Tổng Thống Kennedy.

Nhiều tài liệu mới được giải mã sẽ giúp chúng ta biết rõ sự thật hơn. Đây là vấn đề sẽ được chúng tôi trở lại trong một nhịp khác.

Tú Gàn

 ( nguồn BCT ) 

Trần Đông Phong
Theo: Diển đàn net
Lên đầu trang