Tin quốc ngoại

Những vủ khí tối tân của Hoa kỳ hiện nay

Thêm vào danh sách yêu thíchPhản hồi thông tinBản inĐăng tải ngày: 01/12/2011
 Những vủ khí tối tân của Hoa kỳ hiện nay

Mỹ cũng đang thiếu nguồn lực để phóng 3 vệ tinh tiếp theo. Do vậy, ngày phóng vệ tinh thứ 4 có thể bị đẩy lùi đến năm 2013. Tới nay, chi phí cho chương trình đã lên tới 3,5 tỉ USD và Lầu Năm Góc đang yêu cầu quốc hội duyệt chi 469 triệu USD cho WGS trong năm tài khóa sắp tới. Tuy nhiên, theo tờ Los Angeles Times thì dù chậm tiến độ nhưng Mỹ vẫn quyết triển khai WGS ....


Người gốc Việt nghiên cứu siêu vũ khí laser
Tiến sĩ người Mỹ gốc Việt Định Nguyễn (ảnh) đang đứng đầu bộ phận nghiên cứu phát triển hệ thống của Hải quân Mỹ phóng laser phá hủy tên lửa.

 
Ảnh: Lanl

Với lực lượng hải quân hiện diện trên toàn cầu, Mỹ luôn phải đẩy mạnh nghiên cứu những hệ thống phòng thủ hữu hiệu cho tàu chiến. Áp lực ngày càng lớn hơn khi một số loại tên lửa chống tàu chiến mới được nâng cấp cả về tầm bắn lẫn sức công phá. Thời gian qua, nhiều nguồn tin quân sự liên tục khẳng định Trung Quốc đang hoàn thiện loại tên lửa DF-21D, có tầm bắn 3.000 km, đủ sức phá hủy tàu sân bay.

Giữa lúc tin tức về DF-21D dồn dập xuất hiện, Hải quân Mỹ bất ngờ công bố bước tiến mới của chương trình siêu vũ khí khắc chế hỏa tiễn diệt tàu chiến. Đầu năm nay, website của Cơ quan Nghiên cứu Hải quân Mỹ thông báo đã có đột phá trong việc phát triển hệ thống phóng tia laser đủ sức tiêu diệt các loại tên lửa tấn công tàu chiến. Theo đó, các nhà khoa học ở Trung tâm thí nghiệm quốc gia Los Alamos, thuộc bang New Mexico thử nghiệm thành công việc phóng chùm laser có công suất phát xạ đạt ngưỡng megawatt.

 
Đồ họa thể hiện hoạt động của hệ thống FEL megawatt  - Ảnh: Aramybase.us

Theo tạp chí Wired, chương trình nói trên đã được nghiên cứu trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, lâu nay Hải quân Mỹ chỉ mới dừng lại ở khả năng phát ra chùm tia laser công suất 14 kilowatt, trong khi phải đạt mức 100 kilowatt mới đủ sức phá hủy tên lửa. Vì thế, việc phóng thành công chùm tia laser công suất ngưỡng megawatt là một thành tựu lớn.

 

 
Ông Định Nguyễn nhận bằng cử nhân hóa học tại ĐH Indiana vào năm 1979, được trao học vị tiến sĩ hóa học ở ĐH Wisconsin năm 1984 và chính thức gia nhập Trung tâm thí nghiệm quốc gia Los Alamos cũng trong năm này. Sau đó, ông nhanh chóng trở thành nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực phát triển chùm tia laser công suất lớn. Hiện nay, ông là thành viên Hội Vật lý Mỹ và Ủy ban Chương trình nghiên cứu về FEL. Tiến sĩ Định Nguyễn đã có hơn 60 bài viết khoa học tạo nhiều dấu ấn cùng nhiều tham luận tại các hội thảo. (Theo Deps.org)
 

 

Tiến sĩ Định Nguyễn, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu dự án trên, cho biết: “Chúng tôi rất vui mừng vì nỗ lực thiết kế và thử nghiệm đã thành công”. Quentin Saulter, Tổng quản lý dự án cho Cơ quan Nghiên cứu Hải quân Mỹ, tán dương nhóm chuyên gia của ông Nguyễn vì đã đạt được bước tiến trên sớm 9 tháng so với thời hạn đặt ra. Ông Saulter đánh giá đây là thành tựu quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ Free Electron Laser (FEL), mở ra một thế hệ vũ khí tiên tiến mới.

Hiện nay, tàu chiến Mỹ chủ yếu sử dụng các loại súng pháo để tạo thành lưới phòng không chống tên lửa. Tuy nhiên, phương pháp này khó chiếm được ưu thế đối với các loại tên lửa tốc độ cao và có tầm bay thấp. Vì thế, hệ thống FEL công suất megawatt sẽ giúp thay đổi cục diện nhờ tính chính xác cao và tốc độ bắn cực “khủng”. Sau khi dò thấy tên lửa, tàu chiến có thể nhanh chóng phóng tia laser để tiêu diệt và nhờ tốc độ phát xạ cao, hệ thống FEL vẫn kịp thời phá hủy tên lửa khi đã ở cự ly gần.

Theo kế hoạch trước đó, tàu chiến Mỹ sẽ được trang bị hệ thống trên vào năm 2018. Tuy nhiên, theo trang Engadget.com thì dự án trên đang chịu sức ép tại Thượng viện Mỹ vì chi phí quá cao. Với những đột phá của nhóm nghiên cứu do tiến sĩ Định Nguyễn đứng đầu, các nghị sĩ có thể sẽ suy xét kỹ càng hơn về dự án.

Nhiều năm qua, Lầu Năm Góc luôn tìm cách đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ laser vào vũ khí. Năm 2010, cơ quan này đầu tư cho Tập đoàn Boeing khoản tiền 26 triệu USD để phát triển các ứng dụng laser trên tàu chiến. Trong đó, việc sử dụng tia laser dẫn đường để tăng cường tính chính xác của vũ khí là mục tiêu hàng đầu.

 

Siêu laser

Công nghệ Free Electron Laser được phát minh vào năm 1976 bởi giáo sư vật lý John Madey ở ĐH Standford. Loại laser này có các thuộc tính quang học giống những chùm tia laser thông thường nhưng khác về nguyên lý phát ra. Free Electron Laser không được phát ra nhờ quá trình kích thích để tăng mức năng lượng của các electron như thông thường mà nhờ một chùm tia điện tử đi qua một cấu trúc từ tính. Do đó, tránh được hiện tượng sinh nhiệt và sức hủy diệt của tia laser tăng mạnh. FEL đang được nghiên cứu ứng dụng trong một số lĩnh vực, trong đó có quân sự.

Ngô Minh Trí

 

 

 

Cuộc đua tàu ngầm và săn tàu ngầm

Các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương không chỉ tăng cường những loại tàu ngầm di chuyển cực êm mà còn phát triển công nghệ dò tìm tàu ngầm nhạy bén hơn.

Sau những diễn biến gây quan ngại trên biển vừa qua, nhiều nước trong khu vực đang đẩy mạnh trang bị tàu ngầm, vốn được đánh giá là ngày càng có vai trò quan trọng trong hải chiến. Đồng thời, các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương cũng bắt đầu phát triển các hệ thống dò tìm và chống tàu ngầm để đối phó các nguy cơ về an ninh.

Tăng cường chống tàu ngầm

Mới đây, Bloomberg dẫn nguồn từ Tập đoàn Ultra Electronics cho biết Mỹ đang đẩy nhanh tiến độ phát triển các công nghệ chống tàu ngầm. Ultra Electronics là nhà cung cấp hàng đầu thế giới về các thiết bị sonar sử dụng sóng âm để dò tìm tàu ngầm. Giám đốc điều hành của tập đoàn là Rakesh Sharma cho hay Mỹ và các đồng minh tập trung đầu tư vào những thiết bị sonar tiên tiến, nhạy bén trong khả năng phát hiện tàu ngầm. Công nghệ này tích hợp nhiều phao âm, có thể được thả xuống biển từ máy bay và tàu chiến, cho phép nhận diện đối tượng vô cơ lẫn hữu cơ. Nhờ đó, chúng có thể phân biệt tàu ngầm, đá ngầm và cá voi, đây là điều các thiết bị sonar thế hệ cũ không làm được.

 
Lễ tiếp nhận chiếc tàu ngầm lớp Archer đầu tiên của Singapore - Ảnh: Kockums

Ngoài ra, các thiết bị sonar hiện đại còn có thể phát hiện sự thay đổi về nhiệt độ và độ mặn của nước biển để nhận diện những tàu ngầm đang nằm im phục kích đồng thời hoạt động tốt tại những vùng nước bị ô nhiễm như eo biển Malacca. Vì thế, chúng rất cần thiết tại những vùng biển “ồn ào” như khu vực châu Á - Thái Bình Dương, vốn thường xuyên có nhiều tàu qua lại.

Do công nghệ sonar mới được xem là “sát thủ” của các loại tàu ngầm di chuyển êm nên nhiều nước không tiếc tiền để nghiên cứu và sở hữu. Bloomberg dẫn lời Giám đốc Sharma cho biết: “Ngay cả khi nhiều quốc gia đang cắt giảm ngân sách quốc phòng thì thị trường sonar vẫn được mở rộng. Úc, Philippines, Singapore, Malaysia, cũng sẽ nối bước Mỹ đầu tư vào cuộc chiến chống tàu ngầm”. Ông cho biết thêm Ultra Electronics vừa cung cấp thiết bị sonar mới cho các tàu khu trục của Úc cũng như máy bay săn tàu ngầm Boeing P-8 Poseidon, sẽ được biên chế chính thức cho hải quân Mỹ vào năm 2013.

Ngoài ra, Bloomberg dẫn lời chuyên gia Simon Wezeman thuộc Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (Thụy Điển) nói Nhật Bản và Hàn Quốc cũng có nhiều kế hoạch tăng cường khả năng chống tàu ngầm. Tổng cộng, các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương có kế hoạch mua thêm 100 máy bay tuần tra biển và 100 trực thăng hàng hải, phần lớn đều được trang bị công nghệ sonar thế hệ mới.

 
Máy bay săn tàu ngầm Boeing P-8 Poseidon - Ảnh: Navair.navy.mil 

Cuộc đua toàn diện

Việc các nước tăng cường các biện pháp chống tàu ngầm cũng dễ hiểu khi châu Á đang chứng kiến một cuộc đua tàu ngầm. Không chỉ chạy đua về lượng, các nước đang hướng đến những chủng loại tàu ngầm hoạt động cực êm. Theo tạp chí Asian Military Review, những lớp tàu ngầm như Kilo của Nga, Archer của Thụy Điển hay Scorpène do Pháp sản xuất đều nằm trong đơn đặt hàng của các nước.

Trung Quốc đang trỗi lên với nhiều tham vọng gia tăng sức mạnh hải quân. Thời gian qua, nhiều nguồn tin cho hay Bắc Kinh có kế hoạch bổ sung thêm 30 tàu ngầm để đạt tổng số 86 chiếc vào năm 2020.

Bên cạnh đó, tàu ngầm còn được cải tiến để có thể hoạt động nhiều giờ liền mà không cần nổi lên mặt nước, cho phép có thể nằm im phục kích lâu hơn. Theo Asian Military Review, cả Trung Quốc và Ấn Độ đều đang chạy đua phát triển các công nghệ gia tăng hiệu suất sử dụng năng lượng và cung cấp khí ô xy của tàu ngầm. Hai nước cũng đẩy mạnh bổ sung thêm tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân, có tầm hoạt động xa và mang nhiều vũ khí hạng nặng.

Ngô Minh Trí

Kế hoạch án ngữ không gian của Mỹ và đồng minh
Nhiều nước trên thế giới đang có kế hoạch tham gia mạng lưới vệ tinh quân sự tối tân bao phủ toàn cầu của Mỹ.

Hãng thông tấn Postmedia News của Canada đưa tin chính quyền nước này đang lên kế hoạch chi 477 triệu CAD (gần 1.000 tỉ đồng) để tham gia chương trình vệ tinh quân sự do Mỹ dẫn đầu. Theo Lầu Năm Góc, Hệ thống vệ tinh toàn cầu băng thông rộng (WGS) là một mạng lưới viễn thông đặc biệt để hỗ trợ tác chiến cực kỳ hiệu quả dành riêng cho quân đội Mỹ, cũng như đồng minh và các đối tác. Dự kiến, đến năm 2018, tất cả vệ tinh sẽ đều được phóng lên quỹ đạo. Úc là đồng minh đầu tiên của Mỹ đồng ý đóng góp hơn 800 triệu USD vào năm 2007 cho việc lắp đặt vệ tinh thứ 6. New Zealand, Luxembourg, Đan Mạch cũng tỏ ý muốn tham gia. Mới đây nhất, Hà Lan cũng cho biết sẵn sàng đầu tư vào WGS, theo tờ Aviation Week.

 
Vệ tinh WGS 2 trên bệ phóng ở Florida hồi năm 2009 -  Ảnh: NASA

Đón chào đối tác

 

 

Những con “mắt thần”

Theo dự kiến, WGS gồm 9 vệ tinh tại các khu vực khác nhau trên thế giới, sẵn sàng cung cấp tín hiệu băng thông rộng tần số cao cho lực lượng Mỹ và đồng minh đang hoạt động ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Một vệ tinh WGS truyền tải lượng dữ liệu hơn gấp 10 lần vệ tinh quân sự DCSC-III hiện nay của Mỹ và có thể được triển khai tự do trên quỹ đạo.

 
Phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Canada Daniel Blouin cho biết, việc cải thiện khả năng kết nối thông tin rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay nên Canada quyết định gia nhập WGS. “Các chiến dịch tại Afghanistan và Libya cho thấy sự trao đổi thông tin giữa sở chỉ huy và các lực lượng được điều động là điều then chốt và quyết định sự thành công”, Postmedia News dẫn lời ông Blouin. Cách đây vài tuần, nội các Canada đã cho phép Bộ trưởng Quốc phòng Peter MacKay chi tối đa 477 triệu CAD để bảo đảm nước này được tham gia chương trình vệ tinh của Mỹ. Phát ngôn viên Blouin không nói rõ chi tiết về thỏa thuận vì quá trình thương thuyết đang được tiến hành. Bên cạnh chương trình WGS, Canada còn cân nhắc việc phóng một hệ thống vệ tinh đôi lên cực Bắc nhằm cải thiện công tác liên lạc của quân đội và hỗ trợ WGS sau này.

 

Quân đội Mỹ cũng không giấu giếm ý định khuyến khích đồng minh tham gia vào dự án trên. Trong một cuộc họp báo hồi đầu tháng 10, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Gregory Schulte cho biết nước này đang trong giai đoạn thương thuyết cuối cùng với một số nước khác. Việc quốc tế hóa WGS sẽ giúp nâng tầm bao phủ của mạng lưới cũng như tăng cường khả năng hoạt động của các vệ tinh. Ngoài ra, theo ông Schulte, sự tham gia của nhiều nước sẽ làm bên nào có ý định tấn công WGS phải chùn tay. Sở dĩ Mỹ phải phòng xa như vậy vì theo Bloomberg, tin tặc đã xâm nhập vào 2 vệ tinh của nước này đến 4 lần trong 2 năm 2007 và 2008.

Trì hoãn do trục trặc

Một lý do khác khiến Mỹ phải kêu gọi nhiều nước tham gia WGS là nhằm tìm kiếm thêm nguồn lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống vệ tinh. Năm 2001, Lầu Năm Góc tuyên bố Boeing giành được quyền cung cấp vệ tinh trong kế hoạch xây dựng một hệ thống từ 3 đến 6 vệ tinh trong hơn 10 năm với chi phí khoảng 1,3 tỉ USD. Theo đó, vệ tinh thứ nhất sẽ được phóng vào năm 2004. Tuy nhiên, 3 vệ tinh sau đó liên tục gặp hỏng hóc ở đủ các bộ phận: lỗi ăng-ten, đầu đinh tán đến mối hàn quá yếu. Kết quả là mãi đến năm 2007, vệ tinh số 1, phụ trách khu vực từ Hawaii đến Đông Nam Á, không thể được phóng lên bầu trời Thái Bình Dương và mất nửa năm sau mới hoạt động. Vệ tinh thứ 2, được “treo” trên vùng Trung Đông và Afghanistan, đã đi vào hoạt động vào tháng 6.2009 còn cái thứ 3 trên Đại Tây Dương mới được triển khai hồi tháng 3.2010. Mỹ cũng đang thiếu nguồn lực để phóng 3 vệ tinh tiếp theo. Do vậy, ngày phóng vệ tinh thứ 4 có thể bị đẩy lùi đến năm 2013. Tới nay, chi phí cho chương trình đã lên tới 3,5 tỉ USD và Lầu Năm Góc đang yêu cầu quốc hội duyệt chi 469 triệu USD cho WGS trong năm tài khóa sắp tới. Tuy nhiên, theo tờ Los Angeles Times thì dù chậm tiến độ nhưng Mỹ vẫn quyết triển khai WGS và đã đặt hàng Boeing chế tạo vệ tinh thứ 7 và một phần vệ tinh thứ 8.

Thụy Miên



1. Northrop Grumman B-2 Spirit
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryNorthrop Grumman B-2 Spirit, hay còn gọi là bom Stealth, có thể khởi động vũ khí thông thường và hạt nhân chống lại các dòng kẻ thù bảo vệ nặng nề nhất trên trái đất nhờ khả năng của mình để tránh bị phát hiện radar. Ban đầu, nó được cho là được sản xuất tại một hoạt động của 132, nhưng nó rất đắt tiền mà thứ tự 1987 ban đầu được giảm đến 21.
Không có quốc gia nào khác trên trái đất có một ngân sách quốc phòng lớn hơn Hoa Kỳ. Theo Bộ Quốc phòng, cơ sở ngân sách cho năm tài chính 2010 là hơn $ 500 tỷ đồng, bằng 130 tỷ $ để thúc đẩy cuộc chiến chống khủng bố và một $ 33 tỷ trong chi tiêu bổ sung trên đó.
Và đó là chưa kể đến an ninh nội địa, bảo trì kho vũ khí hạt nhân.
Rất nhiều những khoản tiền này được chi cho máy bay, xe tăng và tàu, tất cả đều được đầu dòng và đại diện cho những tiến xa trong công nghệ quân sự.
Nói cách khác, họ chi phí rất nhiều tiền.



2.
Chuông Boeing V-22 Osprey
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryBell-Boeing V-22 Osprey là máy bay đa năng với khả năng cất cánh và hạ cánh thẳng đứng tương tự như những máy bay trực thăng. Tuy nhiên, nó nhanh hơn nhiều so với bất kỳ chiếc trực thăng hiện có và nó có thể bay ở tốc độ cao như các máy bay turboprop thông thường. Đó là lần đầu tiên được sử dụng để chiến đấu trong năm 2007 tại Iraq, và Thủy quân lục chiến dự định để sử dụng chúng tại Afghanistan vào cuối năm 2011. Thật không may, Osprey là cản bởi một loạt các vụ tai nạn trong giai đoạn thiết kế và thử nghiệm từ năm 1991 đến 2000, và trong thời gian đó máy bay đã tham gia nhiều trong các tai nạn gây ra ba mươi trường hợp tử vong.
Từ năm 2008, chương trình Osprey có giá $ 27 tỷ, và năm 2010, mỗi đơn vị có chi phí $ 67 triệu.

3. USS George H.W.
Bush (CVN-77)
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryĐược đặt tên theo cựu chiến binh chiến tranh thế giới thứ II và cựu Tổng thống của Hoa Kỳ, George HW Bush, các tàu sân bay USS George HW Bush (CVN-77) là Nimitz cuối cùng siêu hàng được sản xuất cho Hải quân Mỹ.
Nó được đưa vào sử dụng trong năm 2001 và được xây dựng bởi Northrop Grumman cho một chi phí $ 6200000000.
Người vận chuyển được hoàn thành vào năm 2009, và được thả neo tại Virginia. Ở gần 1.100 feet chiều dài, đó là một trong những tàu chiến dài nhất trong thế giới. Tốc độ tối đa của nó là hơn 30 hải lý, mà nó đạt đến sự giúp đỡ của hai lò phản ứng hạt nhân trên tàu.
Nguồn năng lượng này có khả năng giữ con tàu chạy trong hơn hai mươi năm mà không một lần để tiếp nhiên liệu.


4.
Lockheed Martin F-35 Lightning II
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryF-35 Lightning II được phát triển như là một phần của một chương trình chung giữa Mỹ, Anh và các đồng minh khác được biết đến như chương trình Joint Strike Fighter. Nó được phát triển để sử dụng trong không khí, mặt đất và các nhiệm vụ trinh sát, nó có một sải cánh dài 35 feet và chiều dài trên 51 mét.
Nội bộ công suất nhiên liệu của nó là hơn 18.000 pound và nó có thể đạt tốc độ 1200 dặm một giờ.
F-35 Lightning II được trang bị một khẩu pháo Gatling 4 nòng và tám loại tên lửa, và nếu tất cả vẫn thất bại, nó cũng có một quả bom hạt nhân B61. Chi phí cho một chiếc máy bay là $ 122 triệu. Mỹ có kế hoạch mua hơn 2.000 đơn vị, với chi phí $ 323 tỷ USD.
Khi thỏa thuận này đã được cắt giảm vào năm 2001, Lockheed Martin nhận hợp đồng quân sự lớn nhất trong lịch sử.


5.
McDonnell Douglas F/A-18 Hornet
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryF/A-18 Hornet đã được giới thiệu bởi McDonnell Douglas và được sản xuất bởi Boeing, mua lại công ty vào năm 1997. Sau khi làm cho nó chuyến đi thời con gái vào năm 1978, nó đã được giới thiệu vào năm 1983 và kể từ đó, nó đã được sử dụng trong một loạt các khả năng. Nó được sử dụng trong dịch Bão Sa mạc, và đó là máy bay đặc trưng của các Thiên Thần Xanh, phi đội máy bay trình diễn của Hải quân Mỹ.
Tuy nhiên, chức năng chính của nó là trinh sát và hỗ trợ trên không.
Hornet có thể đạt tốc độ tối đa 1190 dặm một giờ, và nó có thể leo lên đến 50.000 feet trong một phút. Bên ngoài của Mỹ, máy bay chiến đấu được sử dụng bởi các lực lượng vũ trang của các nước như Úc, Canada và Thụy Sĩ, và nó đã xuất hiện trong Ngày Độc lập 1996 khoa học viễn tưởng phim như chiếc máy bay được sử dụng để đánh bại các mối đe dọa người nước ngoài.
Một báo cáo năm 2006 của Hải quân Hoa Kỳ ước tính rằng chi phí của một đơn vị là $ 57 triệu.


6.
Boeing EA-18G Growler
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryBoeing EA-18G Growler là một máy bay chiến đấu trên tàu sân bay được sử dụng cho chiến tranh điện tử. Nó có thể phá vỡ radar và thưởng thức một hệ thống thông tin liên lạc đối phương với vũ khí bức xạ điện từ và chỉ đạo năng lượng.
Bởi vì việc sử dụng nó như là một máy bay chiến đấu chiến tranh điện tử, nó không mang súng, mặc dù nó mang tên lửa để tự vệ.
Các Growler là một phiên bản sửa đổi F/A-18F Super Hornet, và nó tương đối mới, nó đã đi vào sản xuất trong năm 2007 và chỉ bắt đầu hoạt động trong tháng 9 năm 2009. Máy bay có sải cánh dài hơn 44 feet và chiều dài hơn 60 feet.
Theo Hải quân Mỹ, nó chi phí $ 67 triệu để sản xuất một đơn vị duy nhất.


7.
Viễn chinh Fighting Vehicle
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryCác xe chiến đấu viễn chinh đã có mười lăm phút của sự nổi tiếng khi 2008 ứng cử viên tổng thống John McCain đã trích dẫn các phương tiện tấn công đổ bộ làm cơ sở cho một chương trình tốn kém lãng phí hàng tỷ đô la đối tượng nộp thuế.
Phát triển cho Quân đoàn thủy quân Hoa Kỳ, nó được triển khai trên biển và vận chuyển một đội hình đầy đủ súng trường biển vào bờ, sau đó hoạt động trên đất với đầy đủ tính năng của một chiếc xe tăng.
Các xe chiến đấu viễn chinh được sản xuất bởi General Dynamics, và chi phí cho từng đơn vị là trên $ 22 triệu. Cho đến nay, chương trình, dự kiến ​​sẽ được hoàn thành vào năm 2015, có một chi phí dự án 15 tỷ USD, $ 3 tỷ đã được chi tiêu.
Ủy ban Bowles-Simpson đã khuyến cáo rằng chương trình bị hủy bỏ, và Bộ trưởng Quốc phòng Gates cho biết trong tháng 1 năm 2011 rằng ông tin rằng chương trình sẽ kết thúc.


8.
Grumman E-2D Advanced Hawkeye
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryE-2 Hawkeye là một không khí máy bay cảnh báo sớm rằng ngày trở lại những năm 1960. Nó đã được nâng cấp E-2B và mô hình E-2C khi tiến bộ đã được thực hiện radar và khả năng thông tin liên lạc, nhưng mô hình gần đây nhất, nâng cao Hawkeye E-2D, là tinh vi nhất.
Nó có tính năng một hệ thống radar mới có ba khả năng của nghề giám sát lãnh thổ.
E-2D Advanced Hawkeye, chuyến bay đầu tiên vào năm 2007, chi phí $ 232 triệu USD để sản xuất. Nó có tính năng một thương hiệu mới hệ thống điện tử bộ phần mềm hoàn chỉnh với khả năng thông tin liên lạc vệ tinh, và khả năng tiếp nhiên liệu giữa không trung.
Theo Northrup Grumman, máy bay bắt đầu giao hàng cho Hải quân Hoa Kỳ trong năm 2010.


9.
Boeing C-17 Globemaster III
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryC17A Globemaster III là một máy bay vận tải quân sự trong hoạt động từ năm 1993.
Máy bay, mà có thể thả hơn 100 lính nhảy dù vào một khu vực chiến tranh tại một thời điểm, đã được sử dụng để di chuyển quân vào Iraq và Afghanistan, và cũng đã được sử dụng để cung cấp viện trợ nhân đạo và thực hiện sơ tán y tế.

Giá cho một đơn vị là $ 191 triệu. McDonnell Douglas phát triển trong những năm 1980 không vận chiến lược và chiến thuật, và nó được sử dụng bởi quân đội của Vương quốc Anh và Canada, cũng như NATO.
Cả United Arab Emirates và Ấn Độ đang có kế hoạch sử dụng tàu bay theo.


10.
Lockheed Martin F-22 Raptor
10 Most Expensive Vehicles of U.S. MilitaryTheo nhà sản xuất của nó, Lockheed Martin F-22 Raptor là máy bay chiến đấu tốt nhất trên trái đất. Trong khi điều này có vẻ tương tự như để nói rằng con trai của bạn là rực rỡ, nhìn vào khả năng của máy bay thực sự mang ra tuyên bố của nhà sản xuất.
Nó có thể phá vỡ rào cản âm thanh, nó có thể tránh bị phát hiện bởi radar và nó có thể bắn hạ tên lửa hành trình.
Thật không may, một lực lượng không quân ngân sách tài liệu ước tính rằng một đơn vị chi phí $ 150 triệu, với một chi phí chương trình tổng thể của 65000000000 $.
Giá cao lấy cảm hứng từ Bộ Quốc phòng Mỹ kêu gọi cuối cùng của chương trình trong năm 2009. Thượng viện đã bỏ phiếu kết thúc vào tháng Bảy năm đó, và khi dự luật chính sách quân sự đã được ký kết thành luật ba tháng sau đó, kinh phí cho tiếp tục sản xuất F-22 đã bị cắt.

Bài đọc thêm
http://www.popsci.com/military-aviation-space/article/2006-05/attack-speed-light

Diễn Đàn Net
Theo: Diễn đàn net
Lên đầu trang