Tham luận

Tống Phước Hiến : Bùi Tín, kẻ đánh tráo lịch sử

Thêm vào danh sách yêu thíchPhản hồi thông tinBản inĐăng tải ngày: 09/09/2011
Tống Phước Hiến : Bùi Tín, kẻ đánh tráo lịch sử

Bùi Tín là kẻ bên kia bờ chiến tuyến trong chiến hào của tội ác, chiến hào của bọn hại dân bán nước. Nguyễn Cao Kỳ và chúng tôi trong chiến hào Vệ Quốc. Nhưng có sự tình cờ lịch sử, Nguyễn cao Kỳ có cơ may lãnh đạo chúng tôi. Kinh nghiệm người xưa đã có rằng:” Gia bần tri hiếu tử, quốc biến ngộ trung thần” , “Trường đồ tri mã lực” , “họa hổ họa bì, nan họa cốt - Tri nhân tri diện, bất tri tâm”,


Bùi Tín: kẻ đánh tráo lịch sử

 
          Kính thưa quý vị trên diễn đàn,
          Tôi viết bài thơ “TÔI MUỐN NÓI” cũng khá lâu, từ khi Bùi Tín từ Pháp qua Nam california và Bùi Tín được nói chuyện với đồng bào tỵ nạn cộng sản qua làn sóng của  đài phát thanh Liitle Sài gòn.
          Nghe theo lời khuyên của một số bằng hữu, tôi chưa phổ biến bài thơ nầy vì các bạn tôi cho rằng cần dùng Bùi Tín để “đâp” vô mặt bọn lãnh đạo đảng cộng sản. Nhận thấy lời khuyên nầy có phần đúng, sự khác biệt chiến tuyến hôm qua không có nghĩa là kẻ thù mãi mãi. Nếu hôm nay người bên kia nhận thấy con đường xưa của họ là con đường đầy máu lệ của dân tộc là con đường đưa đất nước đến hố diệt vong và họ quyết tâm giành quyền sống cho dân tộc, thì hôm nay họ là bạn đồng hành.  Nhưng tôi cũng  lưu ý các chiến hữu tôi rằng chúng ta đừng quên, chúng ta đã từng bị kẻ thù lợi dụng tấm lòng chơn chất, nhiệt tình đón chào và mở cửa nhà cho những người ngụy trá vào mà hậu quả là quê hương đã phải chịu biết bao thương hận. Do đó, chúng ta không được cả tin, phải cẩn thận.
 
          Thế rồi với thời gian qua, chúng ta thấy gì:
          1/  Phía cộng đồng tỵ nạn cộng sản: Cho phép Bùi Tín được sử dụng những phương tiện truyền thông để phát biểu những gì Bùi Tín muốn. Cho phép Bùi Tín được tham dự và phát biểu trong tất cả những buổi hội họp.
          2/ Phía Bùi Tín: Lợi dụng những phương tiện ấy để phô trương và phê bình, “chỉ thị” như là :Chủ nghĩa Cộng sản vẫn còn là lý tưởng tốt đẹp, chỉ những kẻ đang lãnh đạo làm không đúng, hay chủ nghĩa cộng sản quá cao đẹp nhưng chưa thể áp dụng được vì quá sớm. Bùi Tín còn xấc láo xỉ vả những chiến sĩ Quốc Gia và gọi họ là “Kẻ chống cộng tới khuya”. Bùi Tín Kêu gọi hợp tác với bạo quyền cộng sản, cứu trợ cho thương phế binh cả hai “phía”. Đểu cáng hơn, Bùi Tín xúi dân tỵ nạn về gặp và trực tiếp phê bình thẳng với những tên đầu sỏ cộng sản. Bùi Tín làm như bọn nầy là loại người còn nhân tính – (Nếu thế, tại sao Bùi Tín lại “chạy đi “TỴ NẠN!?”).
 
          Nhưng qua những bài viết của Bùi Tín, chúng tôi nhận thấy Bùi Tín cũng “vũ như cẩn” (vẫn như củ). Bài viết Bùi Tín không có gì lạ, thuộc loại “vô thưởng vô phạt”, thua xa những bài viết ở trong nước như  của  Bùi Minh Quốc, Nguyễn Duy, Hà Sĩ Phu hay của nhóm trẻ như BS. Phạm Hồng Sơn, LS Lê Chí Quang, Lê thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, KS Đỗ Nam Hải, nhà văn Võ thị Hảo v...v...
          Sau khi đọc “Hoa Xuyên Tuyết” của Bùi Tín và bài viết “Bùi Tín lạc đường vào lịch sử” của LS Đỗ Thái Nhiên, bài thơ :” Bùi Tín và Hoa Xuyên Tuyết” của Phạm Đức Nhì và bài:”Bùi Tín: Món Nợ Không Thể Trả” của GS Trần Đình Ngọc (những bài viết nầy, chúng tôi đã lưu lại trong trang blog cá nhân chúng tôi là :http://www.quehuongvaphannguoi.blogspot.com). Chúng ta đã “thấy” được Bùi Tín.
          Mới đây, trong lúc tìm tài liệu bằng phương tiện điện toán, chúng tôi đọc được vài trang trong quyển “Mây Mù Thế Kỷ” của Bùi Tín. Và những trang nầy đã làm chúng tôi  phẩn nộ.  Chúng tôi xin trích một phần rất nhỏ (vì chưa đọc hết) để quý vị lại “thấy  thêm ” con người thật cũng như nhiệm vụ chính của Bùi Tín đang len lỏi trong cộng đồng tỵ nạn cộng sản của chúng ta.
 
          1/ Về hai lá cờ biểu tượng của Quốc Gia và Cộng sản: Bùi Tín viết:
                   a/ Cờ  Việt công (màu máu đỏ với sao vàng):   Tôi (tức Bùi Tín) thấy lá cờ đỏ sao vàng đã có một thời kì oanh liệt. Đó là thời kì khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời kì kháng chiến chống Pháp và trước đó còn tiêu biểu cho cả cuộc khởi nghĩa Nam bộ năm 1940... Nó có cả một quá trình lịch sử hào hùng và đi cùng với nó là bài quốc ca có tựa đề Tiến quân ca.[25] Nhiều người cho rằng, cần phải giữ lá cờ đỏ sao vàng vì nó tiêu biểu cho một thời kì lịch sử, được Quốc hội của nước Việt nam chấp nhận và được công nhận ở Liên hiệp quốc, là lá cờ chính thức làm lễ chào cờ khi đón các nguyên thủ quốc gia và thay mặt đất nước Việt nam trên trường quốc tế.
*/ Ý kiến chúng tôi: Bùi Tín tuyên truyền rằng  trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, duy nhất chỉ có cộng sản. Bùi Tín đã lưu manh  phủ nhận các lực lượng Quốc Gia cũng như các anh hùng kháng chiến chống Pháp khác như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Quang Phục…. phong trào Duy Tân…, các cuốc biểu tình đòi giảm sưu thuế, đòi ân xá, đòi trả tự do cho các nhà ái quốc đã bị thực dân Pháp giam cầm…. các vị anh hùng như các cụ Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…Thật ra, cộng sản  của Bùi Tín chỉ có mục tiêu duy nhất là chiếm đoạt quyền lực chính trị qua phương tiện khủng bố như:  Thủ tiêu, sát hại, đe dọa, dụ gạt. Bài Tiến quân ca là quốc ca của Bùi Tín còn bị ngay tác giả của nó là nhạc sĩ Văn Cao cho là quá xấu hổ vì quá tàn ác giống dã thú, không chuyên chở được ý thức và bản chất cao quý của Người Việt Nam như: ĂN GAN UỐNG MÁU dù là kẻ thù nhưng nghe ghê tỡm quá, phải không Bùi Tín!?
                   b/ Cờ Quốc Gia (Màu vàng và ba sọc đỏ): Bùi Tín viết :
Về lá cờ vàng ba sọc đỏ, nó được dựng lên dưới thời thực dân Pháp. Dưới lá cờ ấy biết bao nhiêu người chết oan uổng, mẹ tôi đã bị quân đội viễn chinh Pháp bắn chết. Hàng chục vạn người bị chết trong những cuộc càn quét của quân Pháp và lực lượng do Pháp xây dựng. Rồi sau này là những đợt "tố Cộng", "diệt Cộng", thực chất là giết những người yêu nước ở miền Nam. Theo số liệu của Lầu Năm Góc (Hoa Kỳ), hơn 20 ngàn người bị tử hình, ám sát trong thời kì "tố Cộng thực hiện kế hoạch "Phượng Hoàng". Phía bộ đội miền Bắc và "giải phóng" cũng có 28 ngàn chiến sĩ bị bắt ngoài mặt trận, bị giam trong các nhà tù mà lá cờ đó đại diện. Lá cờ ba sọc đỏ chưa hề chinh phục được tôi
          Nhiều người trước kia đã là viên chức cao cấp trong chính quyền miền Nam đã nói với tôi: "Chúng tôi muốn quên lá cờ vàng ba sọc đỏ đi vì nó tiêu biểu cho một chế độ quan liêu, quân phiệt, tham nhũng và thối nát, chúng tôi không muốn thừa nhận lá cờ ấy. Chế độ đó đã thất trận, thất trận do thối nát, thiếu sáng suốt, phải bô nước chạy ra nước ngoài". ở trong nước, đồng bào ta, kể cả những người từng sống trong chế độ Sài Gòn cũ, cũng không nuối tiếc và hy vọng gì về những người "quốc gia" ở nước ngoài, vì họ không tác động có hiệu quả đối với đất nước, trong khi phần đông họ chỉ cổ vũ hận thù và một thời gian còn có không ít người chủ trương dùng bạo lực.
*/ Ý kiến chúng tôi:
Lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là lá cờ do Quốc Trưởng Bảo Đại tuyên bố trước quốc dân sau khi phía Quốc Gia đã áp lực buộc thực dân Pháp phải trao trả nền độc lập cho Dân tộc Việt Nam. Lá cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho thời kỳ tổ quốc  mới dành được độc lập,  không dính líu gì đến thực dân Pháp, nếu Bùi Tín không biết thì tội có thể giảm khinh, nhưng nếu Bùi Tín biết mà trâng tráo như thế thì Bùi Tín chỉ là một tên hèn hạ vì lưu manh đánh tráo lịch sử.
Cái lưu manh của Bùi Tín “mượn nhân vật thứ ba”, nhân vật hoang tưởng nhưng Bùi Tín cho đóng vai cao cấp của Quốc Gia để triệt hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho chính nghĩa Quốc Gia Việt Nam. Bùi Tín biết là gian dối, nhưng vì cần phải chu toàn trách nhiệm phỉ báng lá cờ Vàng ba sọc dỏ, lá cờ Chính Nghĩa Việt Nam nên Bùi Tín phải muối mặt. Bằng vào câu viết nầy, Bùi Tín đã lộ rõ bộ mặt trá ngụy len lỏi và gây ung thối trong cộng đồng tỵ nạn cộng sản, nhưng không bao giờ, chắc chắn không bao giờ Bùi Tín có thể thực hiện được âm mưu nhơ bẩn đen tối đó dù có được hổ trợ từ bất cứ thế lực phản dân hại nước nào. Bùi Tín hãy nhớ trong đầu của Bùi Tín rằng:
Lá cờ Vàng ba  sọc đỏ nầy hiện nay đang được nhân loại (trừ đảng cộng sản và Bùi Tín) công nhận là:”LÁ CỜ TỰ DO VÀ DI SẢN ( Heritage and freedom flag). Hiện chúng tôi chưa có số liệu cập nhật chính thức, nhưng tính đến ngày 31.8.2008 thì Lá cờ chính nghĩa Quốc Gia đã được công nhận (chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ) là 14 tiểu bang, 7 quận hạt, 88 thành phố. Lá cờ vàng còn được đoàn thám hiểm cắm trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, trên chiếc xe của đoàn quân chiến thắng liên quân do Hoa Kỳ lãnh đạo khi tiến vào Iraq, trên nhung phục của quân nhân Hoa kỳ gốc Việt, trên người của các võ sĩ Việt Nam khi đoạt được chiến thắng trên võ đài. Lá cờ Vàng còn được một số các địa phương trên thế giới công nhận. Lá Cờ Vàng vẫn còn hiện diện trên bàn tại cơ quan Văn Bút Quốc Tế, tại các diễn đàn nhân quyền. Lá cờ Vàng xuất hiện rất ngạo nghễ đối đầu với các phái đoàn ngụy quyền cộng sản khi đi chầu chực xin sỏ, chính lá cờ Vàng chính nghĩa của Tổ Quốc Việt Nam đã là những đòn sấm sét gây kinh hoàng khiến bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam phải cúi đầu chạy trốn, phải vào cửa sau, ra của hậu. Lá Vàng đã dẫn đầu trong các lễ hội, diễn hành Quốc tế như ngày văn Hóa thế giới tổ chức hằng năm tại New york, tại các đại hội giới trẻ của Hướng đạo, Gia Đình Phật Tử Việt Nam, Thanh sinh công của Thiên  Chúa Giáo, Hưng Đạo đoàn của Cao Đài, Thanh Niên Hòa Hảo, Tin Lành, tại các võ đường do người Việt điều hành. Lá cờ Vàng là nghi thức không thể thiếu trong mọi sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Lá cờ Vàng đã hiện diện trong Bức Tường Đá Đen tưởng niệm 58 ngàn con yêu của Hoa Kỳ đã xả thân cho lý tưởng Hoa kỳ bảo vệ Tự Do. Lá cờ Vàng chính nghĩa đã tung bay tại các tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ, Việt Úc như một sự xác nhận ghi công các con của Mẹ Việt Nam và các bằng hữu đã hiến dâng cuộc đời cho Mẹ Việt Nam được tồn sinh. Lá cờ Vàng hiện diện trên các tượng dài thuyển nhân như những giòng lệ của Mẹ Việt Nam thương tiếc các con của Mẹ và cũng là những phẩn hận của Mẹ Việt Nam với những đứa con công sản nghịch tử, bán cả cơ đồ của Mẹ, dã tâm tàn sát anh em.
Nếu Bùi Tín đừng quá nặng nề với ngôn ngữ như  Quốc Gia phải là đối trọng với cộng sản, và Bùi Tín vẫn còn là đệ tử của chủ nghĩa cộng sản thì Quốc gia phải là mục tiêu mà Bùi Tín cần tiêu diệt  thì chữ Quốc Gia trong trường hợp nầy có nghĩa là Tổ Quốc Việt Nam là lý tưởng chung của những người Việt Nam thề nguyền đem hết cuộc đời để cống hiến cho đại cuộc là: Việt Nam phải có tự do, phú cường, hanh phúc, toàn vẹn lãnh thổ và ngang hàng với các quốc gia trên thế giới. Lá cờ vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc Việt nam còn là nỗi hoài vọng tha thiết của toàn dân kể cả trong nước và nhất là giới trể. Bằng chứng là trong những ngày gần đây, trong nước có những truyền đơn khẩu hiệu chống kháng với cộng sản có lá cờ Vàng ba sọc đỏ, ngay trên các áo, mũ những thanh niên nam nữ đều tôn vinh lá cờ Vàng.
 Chuyện mẹ Bùi Tín chết là do quân thực dân Pháp bắn chếtcó thật không, vì lý do gì không ai biết. Nhưng người Việt Nam ai cũng biết chồng của bà nầy là Bùi đằng Đoàn tức cha của Bùi Tín vốn đã từng hành nghề thông dịch viên cho thực dân Pháp (khoảng cách giữa một thông dịch viên và một điềm chỉ viên chắc cũng không nhau lắm). Chuyện Tây giết vợ ông Bùi đằng Đoàn thông dịch viên là chuyện trừng phạt giữa một tên chủ và một kẻ vì quyền lợi riêng cam tâm làm tôi đòi nô lệ cho giặc, tại sao Bùi Tín lại kết án lá cờ Vàng của chúng tôi?.
Như bất cứ quốc gia nào, VNCH cũng có tham nhũng. Nhưng tham nhũng không được khuyến khích, không được xem như hình thức phân chia “thực quả” như chánh sách cộng sản dùng tham nhũng để bảo vệ chế độ vì  thằng nào cũng nhem nhuốt, cũng nhơ bẩn nên tham nhũng dưới xã hội cộng sản là chuyện bình thường, không tham nhũng mới là bất bình thường. Thực tế đã chứng minh rằng sau 30.4.75 những viên chức, Sĩ Quan Quân Đội và Cảnh Sát Quốc Gia VNCH gần như hầu hết gia sản đều thanh sạch, vì vậy cộng sản của Bùi Tín mới có cơ hội đày ải họọ lên vùng heo hút để trả thù dưới tên “kinh tế mới”, nhờ thế đảng cộng sản Bùi Tín mói khuyến khích và đề ra chính sách cướp vợ, cướp nhà, cướp đất của những chiến sĩ Quốc Gia.Bùi Tín cần nhớ rằng  luật pháp Quốc Gia nghiêm trị tham ô để bình ổn xã hội. Bằng chứng là con cái của những viên chức cao cấp VNCH có lêu lổng ăn chơi sa đọa trác táng như con cái các viên chứa đảng cộng sản của Bùi Tín không?
Miền Nam chúng tôi thất trận năm 1975 đó là thế quốc tê. Chúng tôi đành phải chấp nhận thân phận nhược tiểu. Nhưng báo cho Bùi Tín và đảng thảo khấu của Bùi Tín biết rằng Người Quốc Gia chỉ thất trận chứ chưa thua cuộc. Thực tế đã dần dần chứng minh sức mạnh và chính nghĩa đang trong trong tay của chúng tôi. Nếu Người Quốc Gia chúng tôi không có sức mạnh thì Bùi Tín cần gì phải giả dạng phản đảng, và đảng của Bùi Tín cần gì phải khổ công nghiên cứu để thực hiện cái gọi là nghị quyết 36. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng sự tồn tại của một Dân Tộc không phải ở chính quyền hay lãnh thổ mà ở Văn Hóa. Người Quốc Gia dù phải bôn đào lánh nạn cộng sản của Bùi Tín, nhưng không bao giờ quên trách nhiệm với Tiền Nhân, chúng tôi đã mang theo văn hóa. Con cháu chúng tôi vẫn nói tiếng Việt, vẫn viết tiếng Việt, những trường Việt Ngữ cuối tuần ngày một nhiều và số lượng học sinh ngày một đông. Gia phong lễ giáo Người xưa truyền dạy, tôn ty trật tự, nền nếp gia phong vẫn nguyên đầy. Những sinh nhật, húy kỵ, lễ tế, hội hè, tôn giáo chúng tôi giữ khuôn phép. Chúng tôi không muốn so sánh với cộng sản vì đã là cộng sản thì làm sao có văn hóa Dân tộc. Văn Hóa cộng sản là văn hóa đánh tráo mà Bùi Tín là kẻ có khá nhiều kinh nghiệm. Trong lịch sử, Việt Nam nhiều lần bị giặc Tàu đánh cướp lãnh thổ, đánh cướp mạng sống, biến người Việt thành dân nô lệ, nhưng cha ông chúng tôi vẫn không mất nước vì giặc thù không cướp được văn hóa của chúng tôi. Bùi Tín đừng đứng trên vị thế của kẻ thắng trận tạm thời, mà huênh hoang. Chuyện Bùi Tín khinh người quốc gia chúng tôi, chúng tôi không quan tâm. Chúng tôi chỉ lo ngại chính chúng tôi khinh chúng tôi, nhưng chuyện đó không bao giờ xảy ra, Bùi Tín đừng mơ.
Bùi Tín nham nhở độc ác khi viết rằng người tỵ nạn không tác động giúp ích gì với người trong nước. Vậy hỏi Bùi Tín Người dân trong nước cần gì?. Họ nghèo khổ, bịnh đau, học hành thì Người Quốc Gia rót hằng năm khoảng 8 tỷ mỹ kim. Sô tiền nầy trám mỏ đồng chí Bùi Tín thì người dân mới tạm yên thân và có cái bánh manh quần mà đã bị Bùi Tín và dồng chí Bùi Tín cưỡng đoạt. Người dân trong nước bịnh đau và cần học hành thì người Quốc Gia gởi tiền, thuốc, và người về  nhưng Bùi Tín và đồng chí Bùi Tín tham lam nhẩn tâm cướp đoạt và bắt bỏ tù những người chúng tôi nên sự viện trợ mang tính vừa nhân đạo vừa trách nhiệm trong tình đồng bào đành phải tạm ngưng. Vì quá tham tàn đảng của Bùi Tín đã phạm thêm tội ác. Người trong nước bất khuất đứng dậy đối diện với bạo quyền cộng sản thì Người Quốc Gia chúng tôi là hậu phương lớn, là chỗ dựa vững chắc. Bất cứ hành động côn đồ nào của đảng Bùi Tín với người anh em chúng tôi trong nước là ngay lập tức các giới chức cao cấp của các quốc gia mà chúng tôi sinh sống đều biết và đều có phản ứng thuận lợi cho công cuộc đấu tranh đòi quyền sống và đều làm viên chức cộng sản phải đê hèn cúi mặt. Ai đã tạo ra sức mạnh ấy?: Chính chúng tôi,! Ai đã làm cho cộng sản cúi gầm mặt trước Quốc tế? – Chính chúng tôi! Ai đã cởi trói nỗi sợ hải của người dân? – Chính chúng tôi. Vâng, chính chúng tôi những người Quốc Gia đang tỵ nạn chính trị , chúng tôi đang theo đuổi và quyết hoàn thành trách nhiệm với Tiền Nhân là phải lấy lại Giang sơn. Nếu thế hệ chúng tôi chưa xong thì con, thì cháu…chúng tôi sẽ lấy lại. Người Quốc Gia chúng tôi tin chắc như thế. Muôn đời, lời thề nguyền lấy lại giang sơn từ tay ác đảng cộng sản của Bùi Tín vẫn sắc son dù phải chấp nhận phong ba bảo tố.
Mục đích của lá cờ đỏ là uống máu nhân dân và tổ quốc Việt Nam cho đảng cộng sản được  sung mãn quyền lực, thế lực và tài lực (xin vào trang web “nó kìa” để thấy tội ác của cộng sản) và Bùi Tín đã có mặt, đã tận tâm tận lực phục vụ cho đảng cộng sản và Bùi Tín cũng đã vấy máu ăn phần khi Bùi Tín được dẳng cộng sản chia phần với vị trí là một trong những kẻ lãnh đạo đảng cộng sản.
Chúng tôi tự thấy không cần chinh phục Bùi Tín, một kẻ điêu ngoa giả trá. Bùi Tín chưa xứng đáng được đứng chung trong hàng ngũ tỵ nạn, Bùi Tín cần chứng tỏ nhân cách ngay thật, không trí trá giảo hoạt, không kiêu căng ngạo mạng , biết phẩn nộ trước cái ác, biết binh vực cái thiện và nỗi xót xa khi dân tộc đang quằn quại dưới ách cùm cộng sản. Phải biết hiểm họa mất nước . thì Bùi Tín mới co cơ may có mật trong hàng ngủ ty nan chúng tôi.
2/ Tự đề cao cá nhân: Bùi Tín tự cho Bùi Tín chiến sĩ yêu nước để  ngụy biện, để vinh danh những tên cộng sản tham tàn khát máu mà thời gian qua chứng minh bọn cán binh, cán bộ cộng sản chỉ là những tên tay sai bán nước. Bọn nầy được người dân trong nước mô tả:” hèn với kẻ thù, tàn ác với dân”. Bùi Tín viết:
Như tôi( tức Bùi Tín) đã nói, rất đông đảo người cộng sản, khi gia nhập đảng không phải là để xây dựng chủ nghĩa cộng sản, mà trước hết là để giành độc lập cho đất nước
Trong hàng ngũ những người cộng sản, có nhiều người vào đảng chỉ vì yêu nước và ý thức quốc gia, có tinh thần đấu tranh cho độc lập. Rất nhiều người trên danh nghĩa là "cộng sản", nhưng có ý thức quốc gia sâu sắc. Họ vào đảng, ra mặt trận, chịu đựng những hy sinh, hiểm nghèo và tận tụy phục vụ nhân dân. ý thức đó xuất phát từ tinh thần yêu nước và bao trùm tất cả tinh thần của họ vẫn là đấu tranh giành độc lập cho đất nước khỏi sự chiếm đóng của nước ngoài.
*-Ý kiến chúng tôi: Vụ đấu tố cải cách ruộng đất đã giết chết hơn 500.000 gười dân vô tội. Vụ Nhân Văn và Giai Phẫm đã đày ải những văn tài ái quốc và di lụy hàng ngàn gia đình phải sống dưới đáy tận cùng xã hội. Những cách phân chia giai cấp để cướp xương máu người dân như bệnh viện, trường học, tem phiếu, các loại hợp tác xã, chế độ đặc táo, tiểu táo, trung táo, đại táo; các loại “chợ” như “chợ Tôn Đản, Vân Hồ, Đồng Xuân, Hàng bè…” và vô số những bất công nghiệt ngã khác thì Bùi Tín là kẻ đại diện cho những tên cộng sản “ mà Bùi Tín gán cho là “yêu nước” ở đâu? Bùi Tín có ý niệm gì  về yêu nước không? Theo tôi là “Không”. Bùi Tín và những đảng viên cộng sản chính là  những kẻ  hưởng đủ mọi quyền lợi trên tầng cao trong chế độ cộng sản, chỉ là những kẻ HÈN.
Riêng cá nhân chúng tôi xin kính phục lòng yêu nước và tiết tháo của nhà thơ Hữu Loan tác giả bài thơ tuyệt tác “Màu Tím Hoa Sim”, ông đã khinh ghét cộng sản và chấp nhận đòn thù hèn hạ của cộng sản. Ông vào cuộc kháng chiến với tấm lòng ái quốc chân chính. Thi sĩ Hữ Loan chấp nhận nghèo khổ chứ không chấp nhận hèn hạ như cha con Bùi Tín để ông được sống trọn vẹn sống đàng hoàng và sống cao quý của KẺ SĨ.
3/  Đối với nỗi thống hận của người dân: Bùi Tín hèn nhát chạy trốn. Bui Tín viết:
Cũng tại cuộc họp ấy, có một chị đến chỉ vào mặt tôi và trút tất cả hận thù vào tôi, vì chị ta có mẹ và một người con bị chết trên biển trong khi vượt biên ra nước ngoài. Tôi đề nghị tất cả mọi người bình tĩnh để nghe. Chị ta nói gần như tố khổ và sau khi xong câu chuyện, tôi có nói rằng tôi rất thông cảm với một người như chị đã mất con, mất mẹ. Nhưng cá nhân tôi không chịu trách nhiệm, không liên quan trực tiếp đến hậu quả bị thảm ấy.
          */ Ý kiến chúng tôi: Bùi Tín yêu cầu mọi người bình tĩnh để nghe, Bùi Tín cho rằng người dự khán sự tố cáo đó đã binh vực cho Bùi Tín chăng ? Tôi cho là không, họ căm thù cộng sản mà hôm ấy Bùi Tín là tên đại diện. Bùi Tín cho hành động của người phụ nữ nầy là tố khổ!. Bùi Tín đừng hiểu chữ tố khổ của Bùi Tín dùng đồng nghĩa với tố khổ của băng đảng Bùi Tín đã dùng trong thời kỳ cải cách ruộng đất năm 1956 nhé. Đây không là tố khổ là mà CÁO TRẠNG Bùi Tín đừng lấp liếm dùng chữ để chạy trốn bản án lịch sử mà băng đảng Bùi Tín phải bị tuyên phạt. Bùi Tín suốt gần như hết cả cuộc đời, đem hết tâm sức phục vụ cho cộng sản, Bùi Tín là kẻ đại diện cho bọn việt gian cộng sản ủi sập cánh cửa Dinh Độc Lập biểu tượng cho Miền Nam TỰ DO, Bùi Tín là kẻ chỉ huy trong đoàn quân xâm lăng Campuchia, là Phó Tổng biên tập nhật báo Nhân Dân, tờ báo chính thức của đảng thì tại sao Bùi Tín lại vô can, không trách nhiệm về những tang tóc thống hận của nhân dân Việt nam được? Nếu chia phân tỷ lê thì tỷ lệ trách nhiệm của Bùi Tín cũng thuộc hạng cao cấp!
          4/ Về nguyên nhân cuộc chiến xâm lăng của cộng sản Bắc Việt tấn công VNCH: Bùi Tín viết:
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, lẽ ra cả nước đã có tổng tuyển cử vào tháng 7-1956 để thống nhất đất nước. Miền Nam và Pháp, Mỹ đều không muốn thi hành điều khoản ấy vì vào lúc ấy uy tín của chính phủ Kháng chiến ở Hà Nội còn mạnh trong phạm vi cả nước. Ai cũng đoán nếu có bầu cử với kiểm soát quốc tế thì ông Hồ Chí Minh sẽ thắng. Ngay sau đó, chính phủ Ngô Đình Diệm thực hiện các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, với sắc lệnh 10-59, đưa máy chém khắp các vùng để trừng trị lực lượng cộng sản đang ẩn dấu trong dân. Hà Nội gọi đó là cuộc chiến tranh một bên trong các tài liệu tổng kết.
Các chiến dịch tố cộng ở đồng bằng sông Cửu Long, ở khu 5, bắt vợ con những người "cộng sản" (thật ra phần lớn chưa, hoặc không phải cộng sản, chỉ là người kháng chiến chống thực dân Pháp) bỏ tù những người chồng đi tập kết ra Bắc; những người kháng chiến cũ, gia đình họ bị quản thúc, kiểm soát gắt gao, gây nên một không khí rất căng thẳng. Họ bắt buộc phải tự vệ... Có nơi họ tự động đào súng lên lập tổ chức canh gác, chiến đấu để tự bảo vệ. Thế là nổ ra các cuộc chiến đấu do những người kháng chiến cũ nằm vùng chỉ huy, được gọi là các cuộc đồng khởi …”chống Cộng", "diệt Cộng", thực chất là giết những người yêu nước ở miền Nam. Theo số liệu của Lầu Năm Góc (Hoa Kỳ), hơn 20 ngàn người bị tử hình, ám sát trong thời kì "tố Cộng thực hiện kế hoạch "Phượng Hoàng". Phía bộ đội miền Bắc và "giải phóng" cũng có 28 ngàn chiến sĩ.
*- Ý kiến chúng tôi:
    - Hiệp định Geneve là sự thượng lượng riêng lẻ giữa kẻ xâm lăng cướp nước là thực dân Pháp với Tàu cộng và đế quốc Liên sô mà cộng sản Việt Nam chỉ là tên tay sai phải thực thi mệnh lệnh của chủ. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ với tư cách là cường quốc nhân chứng đã không ký vào bản văn bán nước nầy thì làm sao Chính quyền Quốc Gia phải thi hành và thi hành với tư cách gì. Cộng sản vốn là tay sai đế quốc đỏ, còn Quốc Gia Việt Nam thì không, luôn luôn có tư cách và tư thế của Quốc Gia có chủ quyền. Vụ phản công Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa, Bình Long, Hải chiến Hoàng sa và cuộc quyết chiến vào những ngày cuối tháng 4/1975 đã hùng hồn minh chứng sứcđề kháng chống cộng của Miền Nam Việt Nam.
- Luật số 10/59 chỉ xử phạt bọn cộng sản nằm vùng gây bất an trong  đời sống vốn đã ổn định, và phá hoại sự phát triển quốc gia (Bùi Tín, hãy nghe bản nhạc của Phạm Duy diễn tả sự căm ghét của nhân dân Miền Nam với cộng sản nằm vùng như sau; “Bọn cộng sản (nó) nằm vùng, nó khủng bố người hiền lành, làm kinh hoàng đời sống nông thôn – quyết không dung quân gian tham, quân giặc tham tàn. Quyết nung sôi trong tim gan uất hận tràn dâng… xin lỗi, chúng tôi không nhớ tên bài hát, và cũng không nhớ hết bài hát; chúng tôi cố công tìm và muốn giữ lại bài ca lẫn bản nhạc nầy nhưng vì khả năng giới hạn nên chưa tìm được. kính mong vị nào có khả năng chuyển tải trên mạng lưới dưới dạng mp3 và cả lời ca thì thật biết ơn vô cùng.) Luật nầy không lê máy chém như tên việt cộng Bui Tín vu cáo mà bị can được đưa xử công khai tại tòa án với đầy đủ các thủ tục tố tụng gồm luôn luật sư bào chửa. Thậm chí nếu bị kết tội, bị can cũng có thể xin chuyển qua hồi chánh. Chính quyền Quốc Gia Việt Nam còn có chương trình nôm na gọi là “đầu thú” nghĩa là dứt khoát với cộng sản, sống bình thường và lương thiện. Nếu bị cộng sản đe dọa thì chính quyền Quốc Gia bảo vệ di chuyển nơi cư ngụ, nếu không nghề nghiệp thì được huấn nghệ, giúp vốn, giúp nhà, giúp đất canh tác, con cái vẫn đi học như bình thường. Sau ngày quốc biến 30.4.1975 biết bao nhiêu cuộc trùng phùng trong đau nhức. Đoàn tụ trong cảnh cha là viên chức cao cấp cộng sản và con là viên chức cao cấp Quốc Gia và đa phần chỉ sau vài lần gặp mặt thì “dường ai nấy bước” vì kẻ bán nước hại dân cộng sản làm sao chung đường với chiến sĩ VNCH chiến đấu  vì Quốc Gia vì Dân Tộc.
Chúng tôi không rõ là có bao nhiêu kẻ “tử vì đạo cộng sản” do đạo luật 10/59 xử phạt, nhưng tôi thấy rõ nhất là bọn cán bộ nằm vùng đã giết người rồi chặt đầu cắm cọc trên đường đi hay cột tóc của thủ cấp nạn nhân trên các cành cây. Nạn nhân bị bọn cán bộ cộng sản nằm vùng không phải tất cả  là viên chức chính quyền Quốc Gia mà đa phần những nạn nhân nầy có thân nhân phục trong Chính quyền và Quân đội, Cảnh sát Quốc Gia, thậm chí chỉ vì thù riêng như muốn cướp vợ, cướp người yêu, mượn tiền, giựt nợ, tranh đất, cải lộn…tội ác của những tên cán bộ cộng sản nằm vùng ngút ngàn, oan khiên uất hận lên đến nghìn trùng thăm thẳm trời xanh.
Bùi Tín đừng vu cáo luật số 10/59 giết Người Kháng Chiến. Danh từ Kháng chiến là của người Quốc Gia, chính Bùi Tín cũng đã xác nhận rằng những người kháng chiến không ai có lý tưởng cộng sản cả. Nhưng về sau, một số người khinh tởm cộng sản bỏ về vùng Quốc Gia kiểm soát, số còn lại hoặc  trở về dân giả, hoặc nín thở chờ cơ hội hồi chánh hoặc chạy theo cộng sản và bọn nầy vô cùng gian ác côn đồ lưu manh thượng hạng ngoại hạng.
Trừ cộng sản ác ôn côn đồ khủng bố ra, không một ai đã tham chiến chống Pháp bị luật nầy chi phối.
Viết đoạn nầy, Bùi Tín đã lưu manh ngầm đưa ý niệm rằng cộng sản mới kháng chiến chống Pháp thật. Chính quyền Quốc Gia là kẻ theo Pháp nên trả thù kháng chiến.
Bùi Tín đã hèn hạ vu cáo và đánh tráo lịch sử.
Kẻ gian dối không thể gian dối lâu được đó là sự thật là kinh nghiêm. Bùi Tín đã tự tố cáo bản mặt gian manh khi Bùi Tín viết:” có nơi họ tự động đào súng lên…và do cán bộ nằm vùng  chỉ huy…” rõ ràng rằng , nếu không có luât10/59 thì đảng của Bùi Tín cũng khuấy động Miền Nam vì đó là quyết định của quốc tế đỏ cộng sản. Đảng bán nước giết dân của cộng sản Bùi Tín không lẻ chôn sung, gài cán bộ nằm vùng  để …“vui chơi”!.
         -Kế hoạch Phụng Hòang mang hình ảnh con chim phụng hoàng mổ côn trùng để bảo vệ cây  trồng và đất trồng. Kế hoạch nầy được cố Tổng Thống VNCH Nguyễn văn Thiệu ban hành vào khoảng tháng 10/1969 nghĩa là sau khi cộng sản Bắc Việt công khai xâm lăng VNCH với sự nội ứng của bọn nắm vùng dưới tên gọi là Mặt Trận Dân Tộc Gải Phóng Miền Nam Việt Nam. Luật số 10/59 và Kế hoạch Phụng Hoàng không phải là một mà là hai phương tiện chống lại sự xâm lăng và khủng bố của Việt cộng.
          5/ Chuyện phải làm đối với chiến hữu và đồng bào: Bùi Tín mộng du, tưởng rằng đang còn mang lon đại tá ngụy quyền cộng sản và đang chỉ thị cho thuộc cấp của Bùi Tín. Xin hãy đọc đoạn văn Bùi Tín viết lúc còn đang say ngủ:
          Việc giúp đỡ ở trong nước là một việc rất nên làm, như quỹ quyên góp đỡ đầu những học sinh học giỏi, đỡ đầu những mầm non văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, giúp anh em thương binh ở cả hai bên, (nhất là ở phía Việt nam Cộng hòa không được nhà nước quan tâm giúp đỡ), trại trẻ em mồ côi duy trì, bảo tồn những di tích lịch sử, văn hóa ở các địa phương, mà ngân sách ở trong nước chưa có đủ. Việc làm này rất có lợi, cho dù có thể bị cắt xén, lấy mất chút ít vì tham nhũng, nhưng ai đã cho tiền thì phải được quyền kiểm soát xem những đồng tiền đó phát huy tác dụng đến đâu.
          *Ý kiến chúng tôi: Hãy cho Bùi Tín ngửi mùi nước đái quỷ để Bùi Tín thức giấc. Bùi Tín đang dung loại văn “chỉ thị” để nói chuyện với những người hơn hẳn Bùi Tín về nhân cách, đạo đức, tài năng và kiến thức. Chỉ có kẻ hoang tưởng mộng du như Bùi Tín mới dám viết giọng trịch thượng như thế, nếu không mơ ngủ thì Bùi Tín là loại Trọc phú kiến thức và quyền lực. Nghĩa là Bùi Tín chẳng có bất cứ gì về kiến thức lẫn quyền lực mà cứ mơ màng tưởng mình có nhiều, có đủ để “nhát ma” thiên hạ” chơi.
          - Ai hỏi Bùi Tín việc giúp đỡ hay không cần giúp đỡ mà Bùi Tín nói cần hay không cần – rõ khỉ!
          - Đỡ đầu giúp đỡ mần non văn nghệ, thể dục ư? Trẻ em trong nước đa phần lao vào cuộc mưu sinh, các em phải đi bán vé số, đánh giày, thu lượm các đồ phế thải để bán cho những đại lý thu mua tái chế xuất, thậm chí còn bị bán cho các động ấu dâm. Những trẻ được đến trường một ít là con nhà bình thường còn đa phần là con cán bộ cộng sản. Chính sách của cộng sản là ngu dân bằng cách đặt rào cản ở cửa học đường như thu học phí, lệ phí, học thêm (kể cả các lớp từ mẩu giáo), tiền thu theo ý muốn của quan chức cộng sản như sửa trường, trồng cây, phụ giúp quỷ trường học v...v…Sau ngu dân là hèn hóa bằng hình thức tuyển dụng, chế tài hành chánh, kỷ luật v…v…Làm gì có nầm non nầm già trong chế độ cộng sản? Có chăng là con cháu của bè lũ thuộc tập đoàn thái thú cộng sản. Bùi Tín từng ở trong bọn chúng ra , sao Bùi Tín không biết? Bùi Tín biết, nhưng Bùi Tín bất lương.
Tội ác phá tan tành thế hệ tương lai đất nước của đảng cộng sản và Bùi Tín đã từng góp phần là tội ác tày trời. Toàn dân Việt Nam, phải góp sức lật đổ bạo quyền cộng sản để mọi công dân ngang bằng nhau (ít nhất là cũng tương đối chứ không đẳng cấp như xã hội do cộng sản thống trị). Hãy giúp cho các em có phương tiện sống để không trở thành hoặc nạn nhân hoặc công cụ cho cộng sản sai khiến như bọn xã hội đen hiện nay. Giúp các em, nhưng bằng phương pháp riêng chứ không qua tay cộng sản. Tôi đã chứng kiến những trẻ em nghèo khổ, bị cộng sản tập trung bắt nhận quà tặng và tiền của một cuộc từ thiện do người nước ngoài và từ nước ngoài ưu ái an ủi các em. Nhưng khi phái đoàn khuất dạng thì bọn cộng sản bắt buộc các em phải giao nạp lại cho chúng. Hình ảnh nầy chắc chắc Bùi Tín biết, nhưng vì nhiệm vụ và vì bất lương Bùi Tín phải  dối trá tuyên truyền.
          - Giúp thương phế binh VNCH, đó là chuyện nội bộ riêng tư của chúng tôi. Ác đảng cộng sản mà Bùi Tín là thành viên đừng đóng kịch giả nhân giả nghĩa!, không cần sự xum xoe của Bùi Tín. Chỉ có mù, Bùi Tín mới không thấy tình chiến hữu của anh em chúng tôi, những người đã đã cùng nhau chia gian truân trận mạc, chia tử sinh no đói buồn vui trong một chiến hào ngăn chận quân thù cộng sản Bùi Tín, giữ gìn từng thước đất quê hương. Nhưng định mệnh cá nhân hòa chung định mệnh quê hương, chúng tôi san xẻ chia nhau thống hận. Lẻ ra, những buổi đại nhạc hội “Cám ơn Anh”, những cuộc quyên góp cho tình chiến hữu phải làm cho Bùi Tín suy nghĩ. Đó là chính nghĩa, là tình người, là niềm tin Tổ Quốc trường tồn. Bùi Tín hỏi xem đồng bọn Bùi Tín và ngay cả Bùi Tín đã làm gì cho những thương phế binh nạn nhân của Bùi Tín và tập đoàn Bùi Tín!
          Chúng tôi, những người Quốc Gia không cần Bùi Tín thương hại, sẽ căm hờn Bùi Tín hơn nếu Bùi Tín vẫn cứ mất dạy cao ngạo như thế nầy! Chúng tôi không thù ghét những thương phế binh  cộng sản, những kẻ đã từng hăng máu thề:” ĂN GAN UỐNG MÁU” chúng tôi, vì chúng tôi hiểu họ kém cỏi, dốt nát và thừa hèn hạ nhưng thiếu khí phách, thừa kiêu căng nhưng thiếu nhân cách vì họ bị Bùi Tín và tập đoàn cộng sản lừa bịp. Nhưng chiến hữu chúng tôi là trên hết và trước hết. Bùi Tín có thấy những thương phế binh VNCH anh em của chúng tôi dìu thương phế binh đồng chí của Bùi Tín đến Chùa Liên Trì của Hòa Thượng Thích Không Tánh và thĩnh cầu Ngài cho người nầy phần quà không? Bùi Tín có thấy khi người thương phế binh cộng sản đến xin phần thì anh em thương phế binh VNCH của chúng tôi rút bớt phần san sẻ cho người anh em ngày xưa từng là kẻ tử thù trên chiến địa không? Bùi Tín và đồng chí Bùi Tín có biết ngay trong thời chiến tranh, giữa chiến trường người lính VNCH tiếp nước và cỏng thương binh đồng chí Bùi Tín về khu vực cứu thương, và nơi đây, bàn tay nhân ái của những quân nhân Bác Sĩ VNCH không xem họ là kẻ thù mà là đồng loại là đồng bào không?  Người Lính VNCH kế thừa truyền thống và nhân cách  Việt Nam. Tư cách và nhân phẩm của Bùi Tín đâu khi miệt thị VNCH chúng tôi. Bùi Tín không biết hay Bùi Tín bất lương khi thi hành nhiệm vụ trá ngụy?.
          Bùi Tín quá nóng lòng moi tiền cộng đồng tỵ nạn cộng sản nên Bùi Tín ló mặt gian xảo:
            Việc trùng tu  di tích là việc của cộng sản, công sản thu thuế dân thì cộng sản phải làm. Thế nào là ngân sách đủ? Không có quốc gia nào tư cho là có đủ ngân sách. Người lãnh đạo cũng như người nội trợ phải “liệu cơm gắp mắm” , chia ngân sách ra nhiều phần tỷ lệ khác nhau để điều hành guồng máy quốc gia, cái gì thiết yếu thì nhiều, cái nào không là sinh tử quốc gia thì ít hơn, nhưng không được bỏ sót. Thực tế thì Liên Hiệp Quốc qua Unesco đã tài trợ cho cộng sản  để trùng tu nhiều công trình nhưng đảng của Bùi Tín có lời nguyền “không cho dollars rơi rớt ngoài tíu tham nên mới sinh ra sáng kiến cement cốt tre, nhận bàn giao và kiểm tra công trình tại bàn nhậu. Túi tham cộng sản không đáy. Bùi Tín không biết thật hay Bùi Tín làm quản cáo viên ăn chia hoa hồng. Nếu cộng sản phân cho Bùi Tín làm “Tiếp Thị” (marketing) móc túi dân tỵ nạn cộng sản thì Bùi Tín chưa chưa đủ khả năng.
                   a/ Chấp nhậ n cho đồng chí của Bùi Tín tham nhũng, túi tiền chúng phình ra theo tỷ lệ nghịch túi tiền cộng đồng tỵ nạn xẹp lại và cái bụng dân nghèo vẫn lép kẹp không thay đổi. Người Tỵ nạn chúng tôi có đủ kinh nghiệm về những gì mà đảng cộng sản mà Bùi Tín là đảng viên nói và làm.
                   b/ Bùi Tín giở trò lưu manh cộng sản dạy cho Bùi Tín từ thưở Bùi Tín ăn cháo lú rằng” Dân Biết, Dân Làm, Dân Kiểm Tra!”, bây giờ thì tuổi đời tuổi đảng không giúp gì hơn ngoại trừ Bùi Tín thay mấy chữ và viết lại cho hợp vói hoạt cảnh bì bịp là: ”tỵ nạn cộng sản biết, tỵ nạn cộng sản làm và tỵ nạn cộng sản kiểm tra”. Nghe cũng vui tai đấy, Bùi Tín nhận chỉ thị đảng của Bùi Tín tìm cách tuyên truyền để vắt cạn kiệt hầu bao dân tỵ nạn, nhưng khả năng Bùi Tín chỉ có thế, nên Bùi Tín đang diễn vai hề vừa dở vừa ác.
          Vẫn câu hỏi trên, nếu bọn lãnh dạo của Bùi Tín chấp nhận kiểm soát thì cộng sản đã là dân chủ rồi, thì Bùi Tín còn đi “tỵ nạn” làm gì.?
6/  Với Nguyễn cao Kỳ là nhân vật lãnh đạo cuộc chiến của người Quốc Gia chống lại cộng sản Bắc Việt xâm lăng, nay vì nhu cầu áo cơm địa vị đã hèn hạ về quỳ mọp với bọn quỷ đỏ : Thì Bùi Tín “nói leo”bằng loại ngôn ngữ mất dạy rất trịch thượng:
          Việc phê phán một ông tướng từng là Chủ tịch ủy ban Hành pháp ở Miền Nam có ý hòa hợp và hòa giải giữa người Việt với nhau, hoặc việc lên án một bà ủy viên hội đồng địa phương ở úc đề xuất ý kiến kết nghĩa với một quận ở thành phố Hồ Chí Minh... mang tính chất thóa mạ, chụp mũ.
           *- Ý kiến chúng tôi: Bùi Tín là kẻ bên kia bờ chiến tuyến trong chiến hào của tội ác, chiến hào của bọn hại dân bán nước. Nguyễn Cao Kỳ và chúng tôi trong chiến hào Vệ Quốc. Nhưng có sự tình cờ lịch sử, Nguyễn cao Kỳ có cơ may lãnh đạo chúng tôi. Kinh nghiệm người xưa đã có rằng:” Gia bần tri hiếu tử, quốc biến ngộ trung thần” , “Trường đồ tri mã lực” , “họa hổ họa bì, nan họa cốt - Tri nhân tri diện, bất tri tâm”, “dò sông, dò biển dễ dò - Mấy ai lấy thước mà đo lòng người”. Chúng tôi rất khổ tâm, lịch sử chiến đấu của Người Quốc Gia tủi nhục khi có hèn tướng Nguyễn cao Kỳ. Do vậy Bùi Tín không có tư cách gì trong việc nội bộ của chúng tôi. Vả lại, những lời khuyên can, kết án của chúng tôi với Nguyễn cao Kỳ là đúng sự thật, không có gì sai sót. Điển hình là tập đoàn cộng sản bán nước, hèn mọn trước mũi giày xâm lăng của bọn giặc Tàu cộng, cảnh oan trái căm hờn phẩn hận của dân oan, cảnh các tôn giáo bị đàn áp khóc liệt, cảnh các cuộc biểu tình chống Tàu cộng xâm lăng bị bắt bớ tù, cảnh tha hóa xã hội. cảnh tham ô nhũng lạm cộng sản,  đã có rất lâu trước khi Nguyễn cao Kỳ xuống thọ hình tại âm ty, Nguyễn cao Kỳ đã không dám có “ý Kiến” mà còn tôn vinh chúng  mỗi khi Nguyễn cao Kỳ có cơ hội. Nỗi dau nhục nầy là của chúng tôi,  Bùi Tín không được hổn láo nói leo.!
          Tóm lại,
          Nhiệm vụ của Bùi Tín là đánh tráo lịch sử:
          1/ Biến cộng sản Việt Nam từ tập đoàn mang  “lý tưởng “ bán nước trở  thành kẻ có công kháng chiến và chủ nghĩa cộng sản mang lại cho Việt Nam thảm họa trở thành vì quá cao đẹp mà chưa thực hiện được.
          2/ Ngụy biện cho trách nhiệm và tội ác của đảng cộng sản và tập đoàn thảo khấu cộng sản thành chỉ là tội của một nhóm lãnh đạo hiện nay và Bùi Tín vô can và hơn thế nữa Bùi Tín là kẻ có công.
          3/ Ngụy biện sự xâm lăng của cộng sản là chính nghĩa và lên án những phương thức chống lại sự xâm lăng cộng sản bảo vệ sự an toàn và phát triển của VNCH.
          3/ kiêu ngạo tôn vinh lá cờ cộng sản nhuốm máu dân tộc và miệt thị lá cờ Chính nghĩa Quốc Gia VIệt Nam.  Nguy hiểm hơn, sự khiêu khích gây hấn nầy của Bùi Tín lại diễn ra tại nơi người tỵ nạn cộng sản sinh sống.
          4/ Hổn láo xen vào chuuyện nội bộ của Người Quốc Gia khi Người Quốc Gia khai trừ tên phản bội Nguyễn cao Kỳ về cúi mọp trước mũi giày bọn cộng sản và hèn nhát bất nhân trước nỗi thống khổ của người dân trong nước.
          5/ Không những hèn nhát đổ thừa trách nhiêm tội ác cho đồng bọn, Bùi Tín còn muốn biến mình thành lãnh đạo, kẻ “bề trên” của Người tỵ nạn đảng  của Bùi Tín.
           Chúng tôi kính xin quý vị, dứ khoát không cho phép tên Việt gian Bùi Tín được thực hiện vai trò kẻ đánh tráo lịch sử.
          Để  kết thúc  bài viết, chúng tôi kính gởi bài thơ sau đây:
 
 
                                         TÔi MUỐN NÓI
 
                                                    Tống phước Hiến
 
                                            Tôi muốn nói: Ðảng Cộng-Sản Việt-Nam,
 Là đảng cướp, đã lừng danh tham ác.
 Ðang là kẻ gieo điêu linh tan tác,
 Vẫn say mèm với bửa tiệc đầu lâu.
                               *
 Hởi những kẻ trong biển máu ngập sâu,
 Từng hí hửng súng gươm theo đảng tặc.
 Cũng đã từng lưu manh núp bóng giặc,
 Từng hung hăng bằng trọn ván cờ gian.
                              *
   Tôi muốn nói, từ đáy vực lầm than,
   Triệu vong linh, triệu nổi niềm oan khuất.
   Gọi anh ơi : Ðừng giờ trò ma thuật,
   Ðừng gây thêm thống hận với non sông.
                             *
   Tôi muốn nói :Vì nòi giống chung cùng,
   Vì mệnh nước, vì tồn vong Ðất Tổ.
   Máu Cha Ông trên luống cày lao khổ,
   Hãy quay về bằng chút sót lương tâm.
                             *
    Ðừng khâm liệm thuở hèn nhát âm thầm,
    Ðã đồng lõa bọn gian nhân hiệp đảng.
    Hãy thức dậy chút lương tri lảng vảng,
    Ðể an lòng trước giây phút lâm chung.
 
 
    Vứt đi anh, những lý luận vi trùng,
                                                 Hãy rút bỏ những lưởi dao ti tiện.
    Và liệng đi những dối gian ngụy biện,
    Cho hồn về trong trắng thuở thơ ngây.
                              
    Ðừng”Hoa xuyên tuyết”,”Ðêm giữa ban ngày”,
    Ai “ Quốc-Hội”, anh gọi ai là “Mẹ”?
    Hãy hổ thẹn “Chia tay ý thức hệ”,
    Ðừng lập lờ, đừng đánh lận quanh co.
                                  *
    Rồi mai đây khi áo ấm cơm no,
    Hãy sung sướng, cùng toàn dân hợp lực.
    Cùng rộn ràng Quê hương vàng nắng rực,
    Anh mĩm cười đã dứt khoát tà đen.
                               *
    Tôi muốn nói : Thuở sa đọa, yếu hèn,
    Ðịa vị, quyền uy – làm anh nín lặng.
    Nên có lần lương tâm  anh trĩu nặng,
   Nay cuối đời, hãy thức dậy đi anh
 
                                    Tống phước Hiến  
 

Đình công lớn tại Sài Gòn, 65 ngàn công nhân bỏ việc

“…Một vụ đình công lớn xảy ra ở Sài Gòn kéo dài đã ba ngày qua tại công ty vốn đầu tư Ðài Loan 100%, sản xuất giày gia công cho nhiều hãng giày lớn và nổi tiếng ở ngoại quốc…



.....Hiện tổng số công nhân của Pou Yuen khoảng 65,000 người mà lúc thịnh đạt nhất cách đây mấy năm lên đến 80,000 người


…“Mỗi ngày, ở một nơi nào đó tại Việt Nam đều xảy ra một vụ đình công”. Youngmo Yoon, một chuyên viên về lao động Việt Nam của tổ chức Công Ðoàn Quốc Tế ILO nói với hãng tin tài chính Bloomberg…

Trong 4 tháng đầu năm 2011, đã có 336 [gần 3 vụ/ ngày] vụ đình công tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội…”(Bloomberg, 23/06/2011)

————————-

Cái “ác” của CPI giả mạo là, cty ngoại quốc tăng lương công nhân theo mức này, nhưng giá hàng hóa THẬT SỰ tăng cao ít nhất là GẤP 3 lần CPI.

Ví dụ, Cường Đô la thì không cần tăng quá nhiều tiền xài, do xe hơi không lên giá, còn thức ăn lên vài chục triệu đồng/ tháng chẳng thấm vào đâu với số anh ta xài hàng tỉ đồng/ tháng.

Nhưng với công nhân VN, và 90% dân chúng VN, thì thức ăn chiếm đến 82% thu nhập của họ – theo một cuộc nghiên cứu của Hàn quốc.

Như vậy, khi giá thức ăn tăng gần gấp đôi từ tháng 6 năm ngoái đến nay, đang khi lương tăng theo lạm phát “chỉ 20,82%”, thì làm sao dân chúng sống nổi. (AFP, 24/06/2011)

Lương phải tăng gấp đôi, chứ nếu chỉ tăng 21% thì công nhân bị sụt sức mua đến 40% (từ 100 đơn vị phải lên 200, nhưng chỉ được lên 120, thiếu 80 trên tổng số 200 cần thiết), do đó mà họ PHẢI ĐÌNH CÔNG.

Tình hình càng ngày càng KHẨN THIẾT, CPVN không thể ra chỉ thị bảo báo không đăng là yên việc, các cuộc đình công, đời sống công nhân thê thảm, tự được giải quyết.

Trong 6 tháng cuối năm, gần Noel, và sau đó là gần Tết, thì LẠM PHÁT chắc chắn lại càng tăng.

Lương không tăng kịp thì sẽ lại có đình công kinh hoàng toàn quốc, còn các công nhân viên chức, công an bộ đội không được tăng lương thì sẽ có bỏ việc, quốc gia đình đốn, như từng xảy ra bên LX cũ, làm sập cả nền KT và từ đó sập luôn khối CS từng vô cùng vững chắc.

Họ tịch thu tài sản, bắt bỏ tù dân mua bán USD, dân sợ quá, bán ra hết, thì giá phải TẠM giảm thôi – cho đến khi cạn kiệt hoàn toàn số USD “nhàn rỗi”, trong túi nhân dân.

Họ in 63 ngàn tỉ đồng ra mua vào 3 tỉ USD, la toáng lên rằng “VN đã ổn định ngoại tệ”, nghe có buồn cười không, nhưng nhiều báo ngoại quốc bị gạt, trích đăng lại.

Nay có 1 ông PGS.TS Việt Nam nói, và dùng 1 thành ngữ rất hay, “đó chỉ là té bùn sang ao”, chỉ việc từ túi dân qua túi nhà nước, chứ TOÀN XỨ VN có THÊM được đồng USD nào đâu.

Và ông này nói “khó tin kiều hối tăng”, chứ không lẽ mắng vào mặt ông Giàu là “LÁO KHOÉT”, khi ông Giàu nói “kiều hối tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái trong quý II”, đang khi chính ông ta nói “giảm trong quý I”.(Vietstock, 11/05/2011)

Ôi giời ơi, dối trá ơi là dối trá.


VÌ VIỆT CỘNG BÁN NƯỚC, MỘT THIÊN ĐƯỜNG CỦA CHÚNG TA ĐÃ MẤT


"...Khoảng năm 1958, có lần một đoàn tàu Trung Quốc đến gần nhưng bị Thủy quân lục chiến chế độ Sài Gòn bắn dọa đuổi đi. Tàu cá của Nhật cũng có tới xin nước ngọt. Họ không biết tiếng Việt nhưng ra dấu xin lên đảo lấy nước rồi cúi đầu cảm tạ..."
“Sáng đó (19.1.1974), chúng tôi dậy tập thể dục. Mặt trời lên rất đẹp. Bất ngờ một người nhìn thấy ngoài khơi có rất nhiều tàu bao vây quanh đảo. Mọi người vội vàng chạy vào lấy ống nhòm ra nhìn và biết đó là tàu của Trung Quốc” – ông Tạ Hồng Tân, một trong những người Việt Nam cuối cùng rời khỏi Hoàng Sa nhớ lại như vậy.

Bị Trung Quốc bắt làm tù binh

Đó là một ngày không quên trong đời ông Tân. Năm nay đã 73 tuổi, ông Tân sống bằng nghề dạy kèm tiếng Anh, tiếng Pháp tại phường An Hải Đông thành phố Đà Nẵng. Ông là người gốc sài Gòn, làm nhân viên quan trắc cho Đài khí tượng Sài Gòn, được điều ra Trung tâm khí tượng Đà Nẵng làm quan trắc viên Trạm khí tượng Hoàng Sa cuối năm 1973 cho đến ngày bị Trung Quốc bắt làm tù binh. Khi đó, trên đảo có một trung đội Địa phương quân thuộc Đại đội 157, địa phương quân Đà Nẵng của chế độ Sài Gòn và 6 nhân viên thuộc Trạm khí tượng Hoàng Sa. Ông Tân kể: “Thấy tàu chiến nhiều quá chúng tôi rất lo âu. Nhân viên vô tuyến của trạm liên lạc về Đài khí tượng Đà Nẵng cầu cứu. Kêu thì kêu vậy nhưng biết không làm gì được vì lực lượng bên đó quá đông!”. Từ sáng sớm đến hết cả ngày 19-1-1974, tàu chiến Trung Quốc án binh bất động. Lúc đó, đã xảy ra hải chiến ngoài khơi, ở các đảo xung quanh, nhưng những nhân viên khí tượng này không biết. Khoảng 5h chiều, sau một đợt pháo kích, Trung Quốc cho quân đổ bộ vào đảo bắt sống toàn bộ trung đội Địa phương quân và 6 nhân viên khí tượng, trong đó có ông Tạ Hồng Tân. “Họ đưa chúng tôi lên tàu về đảo Hải Nam ngày hôm sau. Chúng tôi được chuyển lên xe bịt bùng về giam ở đâu không biết!” – ông Tân kể. Chúng tôi xác định được nhà giam ông Tân cũng như các binh lính khác là nhà lao Thu Dung thuộc tỉnh Quảng Châu. Vào nhà giam, mọi người bị lấy lời khai nhưng được đối xử tử tế.

Khoảng gần 3 tuần sau, ông Tân nói có một cán bộ Trung Quốc tới trại, đem theo người phiên dịch nói cho chúng tôi biết: “Hoàng Sa là đảo của Trung Quốc nhưng Việt Nam chiếm làm đài Khí tượng. Nay Trung Quốc lấy lại và các anh sẽ được trả tự do trong vài ngày tới”. Khoảng gần 1 tuần sau, ông Tân cùng toàn bộ tù binh bị Trung Quốc bắt đưa qua Hồng Kông. Chính quyền Sài Gòn điều một chiếc máy bay C130 sang Hồng Kông nhận trao trả tù binh. Phần lớn số tù binh sau đó về lại nơi làm việc ở Đà Nẵng. Tiễn chúng tôi ra về tới cửa, ông Tân còn nheo nheo mắt hỏi: “Không biết bây giờ tên của tôi có còn ngoài Hoàng Sa không?”. Một câu hỏi thật khó trả lời. Tất cả những binh sĩ chế độ Sài Gòn và nhân viên khí tượng khi đến Hoàng Sa, những giờ rảnh rỗi họ ra những tảng đá ven biển khắc họ tên và địa chỉ mình lên đó làm kỷ niệm. Khi ông Tân ra thì đã thấy lớp lâu lớp mới tên người Việt Nam trên đá, ở những vị trí tuyệt đẹp.

Thiên đường đã mất

Một trong những người từng làm việc lâu đời ở Hoàng Sa hiện còn sống tại Đà Nẵng là ông Nguyễn Tấn Phát, nhân viên quan trắc Đài khí tượng Sài Gòn. Đầu năm 1958, ông Phát được điều theo dạng luôn phiên ra Đà Nẵng rồi đi Hoàng Sa. Đó là một thời kỳ đẹp đẽ nhất trong đời của một chàng trai Sài Gòn. Ông nói: “Mỗi nhân viên chỉ đi Hoàng Sa luân phiên 3 tháng, mỗi lần đi có 6 người gồm 4 quan trắc viên, 1 nhân viên vô tuyến và 1 nhân viên phục vụ lo thổi bóng hơi quan trắc cao không đo gió kiêm hậu cần. Tôi lúc đó mới 23 tuổi, chưa lập gia đình, thấy cảnh sắc thần tiên nên mê và xin ở lại luôn cả nửa năm”. Nửa năm sống trên đảo trong ký ức của ông Phát bây giờ là nửa năm làm Từ Thức!”. Công việc quan trắc cũng khá nhẹ nhàng, chủ yếu vài thời điểm trong ngày. Thời gian còn lại ông cùng những đồng nghiệp mình ngao du khắp đảo Hoàng Sa. Lâu lâu, ông kể là đi theo xuồng máy của đơn vị Thủy quân lục chiến chế độ Sài Gòn đi thăm các đảo có chim sinh sống. Đó là những bãi cát vàng rực trong ánh chiều tà. Chân chúng tôi len lỏi giữa những ổ trứng chim. Chim nhiều vô kể, chúng không hề sợ hãi khi thấy người tới gần. Bình Minh trên quần đảo Hoàng Sa là thời khắc huy hoàng nhất trong ngày. “Chúng tôi thấy mặt trời đỏ rực, to và rất gần. Nắng lên một chút, nước biển ven bờ xanh một màu ngọc bích đẹp lạ lùng, xa xa hơn một chút nữa màu xanh dương rồi tới xanh lục. Chiều chiều rảnh rỗi chúng tôi bơi ra xa lặn xuống xem những rạn san hô với cá đủ màu sắc...” – ông Phát kể như vậy.

Đặc biệt nhất tại Hoàng Sa là cá. Cá nhiều vô kể, nhất là cá mú. Lính đảo cùng các nhân viên khí tượng sống nhờ nguồn thực phẩm khá dồi dào tại Hoàng Sa. Cá, ốc, mực, bạch tuộc, chim... “Chỉ cần quăng câu chừng vài phút là được gần cả chục con cá mú, cá khế, cá xanh xương... Con nào con đó nặng trên 5 – 7 ký” – đó là ký ức của ông Võ Như Dân, người ở Hoàng Sa nhiều nhất nay còn sống. Ông Dân làm nhân viên hậu cần cho Trạm khí tượng Hoàng Sa từ năm 1956. Đội hậu cần thời đó chỉ có 3 người luân phiên nhau ra Hoàng Sa. Chính vì vậy, cho đến ngày Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc năm 1974, ông Dân có 14 chuyến ra Hoàng Sa, mỗi chuyến 3 tháng, tổng cộng là 3 năm rưỡi sinh sống trên đảo. Cảnh sắc quen thuộc thân thương quá đỗi đến mức ông bảo: “Hôm qua tôi xuống Sở Nội vụ TP Đà Nẵng, nơi có kho tư liệu và hành ảnh về Hoàng Sa, tối về tôi nằm mường tượng nó ở trước mặt tôi. Cả phần đời tôi đã ở đó...”. Nhiệm vụ là hậu cần nên suốt ngày ông Dân đi câu cá phục vụ thức ăn cho toàn đội. Đồ hộp cũng nhiều nhưng không ai ăn. Khu nhà khí tượng do Pháp xây trên đảo có những hầm chứa nước mưa dùng uống quanh năm.

Khoảng năm 1958, có lần một đoàn tàu Trung Quốc đến gần nhưng bị Thủy quân lục chiến chế độ Sài Gòn bắn dọa đuổi đi. Tàu cá của Nhật cũng có tới xin nước ngọt. Họ không biết tiếng Việt nhưng ra dấu xin lên đảo lấy nước rồi cúi đầu cảm tạ... Bao nhiêu kỷ niệm còn sống trong lòng những người đã từng ở Hoàng Sa. Ông Phạm Khôi, nguyên là lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa, hiện sống ở Đà Nẵng mở tủ lấy ra hai chiếc vỏ ốc hoa còn khắc ngày ông đặt chân lên Hoàng Sa: 23 tháng chạp năm 1969. Đó là hai chiếc vỏ ốc ông mang về và trở thành báu vật của đời ông!
NGUYỄN MINH SƠN


Mang cha ra khỏi đất tù, sau hơn 30 năm

Mùa Hè 2010, trong hành trang Daniel Ðiền Lương mang theo trên chuyến bay trở về Los Angeles, có một thứ rất đặc biệt. Ðó là chiếc mộ bia “nặng khoảng 30 pound,” trên đó có tên cha anh, cựu Ðại Úy Pháo Binh VNCH Lương Văn Hoa.
Daniel Ðiền Lương và tấm bia mộ của cha, cựu Ðại Úy Pháo Binh VNCH Lương Văn Hoa, được mang về Mỹ sau 33 năm nằm ở Làng Ðá, Yên Bái. (Hình: Daniel Ðiền Lương cung cấp)
Sau hơn 30 năm lạnh lẽo, cô độc nằm trong đất tù Làng Ðá, cuối cùng, “người tù cải tạo” Lương Văn Hoa đã có thể nở nụ cười mãn nguyện khi được trở về trong vòng tay người thân, dù chỉ qua hình hài của một tấm bia và những nắm xương còn sót lại.
“Tôi vui, vì dù sao, hơn 30 năm, ba tôi cũng được mang ra khỏi đất tù để trở về với gia đình,” anh Daniel, người con trai lớn của người lính pháo binh năm nào, thổ lộ.
Câu chuyện hơn ba thập kỷ trước
“Lần chót tôi nhìn thấy ba tôi là lúc ông còn trong Nam,” anh Daniel Ðiền Lương bắt đầu câu chuyện.
Sau Tháng Tư, 1975, “theo lời kêu gọi của chính phủ,” ba của Daniel, “trở về Cần Thơ đi trình diện”.
“Ba tôi, cũng như nhiều người sĩ quan khác của Việt Nam Cộng Hòa được tập trung vào một trại lính cũ ở Cần Thơ để ‘học tập cải tạo’. Lúc đó, mỗi tuần họ đều cho gia đình mang đồ ăn lên,” anh Daniel kể.
Trong ký ức của Daniel, người kỹ sư lập trình 47 tuổi, vẫn còn ghi nhớ hình ảnh cậu bé 12, 13 tuổi ngày nào cứ mỗi trưa Thứ Bảy, đạp xe gần hai giờ đi thăm cha mình.
Anh trầm ngâm, “Tết Nguyên Ðán năm 1976, tôi nhớ tôi có gặp ba tôi, lúc đó tôi khoảng 12 tuổi.”
Ðó cũng là lần cuối cùng Daniel được nhìn thấy cha anh. Bởi, chỉ vài tuần sau, cũng như thường lệ, khi gia đình anh mang thức ăn lên thăm cha, nơi trại lính “trống rỗng, không còn dấu vết gì hết”.
Họ đi đâu hết rồi? Tại sao người ta đưa cha anh đi đâu mà không cho biết? Sao tất cả biến mất một cách khó hiểu như vậy?
Hoang mang. Lo lắng. Sợ hãi. Là tâm trạng mà Daniel và gia đình anh phải trải qua.
Ði hỏi công an. Họ nói, “về nhà chờ đi”.
Thấp thỏm đợi chờ trong nỗi lo “không biết ba sống chết ra sao” cho đến khoảng hai, ba tháng sau thì gia đình Daniel thấy một lá thư gửi về.
“Thư không ghi địa chỉ, chỉ có số hòm thư, nhưng nhìn dấu bưu điện thì thấy ‘Hà Nội’. Vậy là gia đình nghĩ chắc họ đã mang ba tôi ra Bắc rồi.” Người con trai nhớ lại.
Thế nhưng, sau vài lần thư đi tin lại, “chừng sáu, bảy tháng sau lại bặt tin ba tôi. Thư cứ gửi đi mà không thấy thư gửi về”.
Lại một lần nữa, nỗi lo lắng dồn về trong không khí gia đình vợ con người lính pháo binh Lương Văn Hoa.
“Một vài gia đình quen biết, có người thân ở tù cùng với ba tôi, viết thư về nói rằng ba tôi mất rồi.” Anh trầm giọng.
Ðến tám tháng sau, giấy báo tử Ðại Úy Pháo Binh Lương Văn Hoa mới đến tay vợ con ông, kèm theo đó là “cái đồng hồ và cái nhẫn của ba tôi, ngoài ra không còn gì hết”.
Theo những thông tin nhận được, ba của Daniel “mất ngày 3 Tháng Tám, 1977 vì sốt rét”.
Nơi chôn ông là “Làng Ðá, xã Cẩm Nhân, huyện Thác Bà, tỉnh Yên Bái”.
Tấm bia mộ của cựu Ðại Úy Pháo Binh VNCH Lương Văn Hoa được tìm thấy ở Làng Ðá, vào Tháng Bảy, 2010. (Hình: Daniel Ðiền Lương cung cấp)
Daniel nói như tự an ủi chính mình, “Biết nơi ba tôi được chôn, nhưng lúc đó nghèo quá, làm sao dám nghĩ đến chuyện lội ra Bắc. Mà ngoài Bắc là như thế nào, chúng tôi đâu ai biết.”
Nhận giấy báo tử, “má tôi không chờ nữa, lại thêm khi đó chiến tranh Cambodia xảy ra, thấy nhiều bà con bị bắt lính, nên má tôi tìm cách đưa hết mấy anh em tôi đi vượt biên”.
Những chần chừ, lần lữa, bỏ cuộc
Như bao nhiêu thuyền nhân của thập niên 1970 và 1980, bước chân xuống thuyền ra đi, không mấy ai có ý định sẽ có ngày quay trở về. Gia đình Daniel cũng không khác, “chẳng hề nghĩ đến chuyện sẽ có ngày trở về để bốc mộ ba”.
Anh kể, “Vì khi ra đi, mang theo ít đồ bị hải tặc bắt lấy hết trơn, không còn gì hết. Riêng giấy báo tử của ba để lại cho người cô ở Việt Nam nên mới còn, chứ không cũng mất luôn rồi, cũng sẽ không còn biết ba tôi ở đâu.”
Sang Mỹ từ năm 1979, miệt mài với việc học hành, mưu sinh, hình ảnh người cha còn nằm lại một nơi xa lạ nào đó nơi rừng núi Bắc Việt chìm khuất trong muôn nỗi lo toan cho đời sống thường nhật của mẹ con anh Daniel.
“Ðến khoảng năm 1991-1992, gia đình mới bắt đầu nghĩ đến chuyện về Việt Nam tìm lại mộ ba tôi.” Daniel nhớ lại.
Nghĩ là vậy, nhưng đến cuối thập niên 1990, người kỹ sư lập trình này mới lần đầu về thăm quê nhà sau 20 năm ra đi. Tuy nhiên, lần đầu tiên đó, Daniel cũng chỉ làm được một việc duy nhất là tìm lại được tấm giấy báo tử, trên đó có ghi nơi chốn cha anh yên nghỉ.
“Tôi cầm tờ giấy đó về Mỹ nhưng thực sự vẫn không biết là phải đi tìm như thế nào, tìm làm sao, không biết mồ mả còn không. Nhiều bà con ở dưới quê lại không dám mang chuyện cũ ra bàn sợ liên lụy. Rất nhiều điều không chắc chắn làm chúng tôi phải suy nghĩ.” Người con trai băn khoăn.
Một lần nữa, ý định đi tìm mộ Ðại Úy Pháo Binh VNCH Lương Văn Hoa lại bị bỏ qua.
Tuy nhiên, sáu năm sau, tức năm 2005, qua một người quen biết ở Hải Phòng, gia đình Daniel nhờ người đi dọ hỏi, tìm kiếm.
“Ðúng là có bia mộ ba tôi ở Làng Ðá,” anh nói.
Có điều, người ta cho gia đình anh biết rằng “các tấm bia bị xô dạt hết, chứ không nằm trên mộ, do đó không thể biết chính xác mộ nào là của ai”.
“Thỏa mãn là biết nơi chôn ba tôi thôi nhưng nghĩ đâu biết mộ nào mà bốc cốt, nếu bốc lầm thì sao? Mà muốn thử DNA thì chẳng lẽ mang hết tất cả về thử? Ai cho phép mình làm như vậy!”
Lần thứ ba, “Chúng tôi lại bỏ cuộc.”
Quyết định tình cờ
Dân gian vẫn thường nói “bất quá tam”. Sau ba lần, hơn 30 năm, những tưởng mọi chuyện có thể xếp vào quên lãng, coi như chấm dứt sự hiện hữu của một con người. Nhưng có những điều thuộc về tâm linh không thể lý giải. Một điều gì cứ lẩn khuất.
“Ðầu năm 2010, một người bạn của má tôi tình cờ đọc trên báo Người Việt thấy có đăng tin về việc những ngôi mộ chôn tại Làng Ðá sẽ được bốc đi. Trong danh sách tên những người nằm tại đó có tên ba tôi,” con trai người quá cố kể tiếp.
Theo hướng dẫn trên bài báo, Daniel Ðiền Lương liên lạc với ông Nguyễn Ðạc Thành, chủ tịch hội Vietnamese American Foundation (VAF), nơi có chương trình The Returning Casualty nhằm tìm kiếm và đưa hài cốt của những tử sĩ trở về với gia đình sau nhiều năm nằm lại nơi rừng hoang núi lạnh, để tìm hiểu và xin được tham gia chuyến đi ra Yên Bái, đến bốc mộ tại Làng Ðá.
Tháng Bảy năm 2010, Daniel cùng vài người thân và một số gia đình khác, có gia đình từ Mỹ trở về, có gia đình ở tại Việt Nam, cùng đoàn của ông Nguyễn Ðạc Thành đi ra Yên Bái để bốc hết những ngôi mộ ở Làng Ðá và đưa những “sample” về Mỹ thử DNA.
Anh thổ lộ, “Khi đến nơi chôn ba tôi, vui một lúc buồn một lúc. Vui vì thấy bia mộ ba tôi đây rồi. Buồn vì không biết có tìm được hài cốt ba tôi không, vì thấy đã có người bốc trước rồi, không biết họ có bốc đúng không nữa.”
Theo danh sách của chính quyền sở tại đưa, phải còn 22 ngôi mộ nằm lại Làng Ðá, chưa có thân nhân bốc dỡ. Tuy nhiên, khi đến đào lên thì chỉ còn có 12 bộ hài cốt.
Ông Nguyễn Ðạc Thành cho biết, “Trên danh sách, có 31 ngôi mộ được chôn tại Làng Ðá, nhưng chín ngôi mộ bị người ta bốc chui, không phép tắc. Thêm vào đó, do nhiều mộ bia đã bị sạt lở nên nhiều người, do lời chỉ dẫn của người địa phương chỉ cốt muốn lấy tiền, nên họ đã không bốc đúng hài cốt của thân nhân mình.”
Không biết chắc rằng trong những hài cốt còn sót lại, có cái nào là hình hài của người đã sinh ra mình không, “nhưng cái mộ bia này chắc chắn là của ba tôi rồi”. Nghĩ vậy, Daniel đã không ngần ngại mang tấm bia có tên cha anh trở về Mỹ, “dù không biết có đặt lên bàn thờ được không, nhưng tôi vẫn cứ mang về”.
Anh trầm giọng, “Chuyện ba mất xảy ra đã lâu quá rồi, buồn thì không còn buồn nữa nhưng cũng cảm thấy sao đó khi ra ngoài đó. Thấy hoang vắng quá!”
Ngừng lại vài giây, Daniel nói tiếp những suy nghĩ của mình, “Tôi nghĩ dù không còn trại tù nhưng những người nằm đó cũng giống như nằm tù 30 năm nay. Giờ mình đào lên, mang họ qua ngọn đồi kế bên mà mình phải trả tiền mướn, đặt họ lên đó.”
“Nhiều bác nằm đó gia đình không biết, giờ có người đã mang các bác đó ra khỏi đất tù, xem như mấy bác đã được tự do sau ba mươi mấy năm. Mình cũng thấy an ủi khi làm được chuyện như vậy.” Daniel Ðiền Lương chậm rãi tiếp.
Ý nghĩa giải thoát cảnh tù, mang lại tự do cho những người tù cải tạo, dù muộn màng, dù giờ họ chỉ còn là những nắm xương không nguyên vẹn, lại mang ý nghĩa nhân bản, thiêng liêng đến dường nào.
Theo thông báo từ ông Nguyễn Ðạc Thành, trong năm gia đình cùng đi bốc mộ người thân ở Làng Ðá, chỉ mới có hai gia đình tìm được đúng hài cốt thân nhân mình sau khi thử DNA, trong đó có gia đình Daniel Ðiền Lương, “còn lại ba gia đình đã bị ai đó lấy lộn hài cốt rồi”.
Ông kêu gọi, “Ai đã bốc lộn những hài cốt này xin liên lạc với chúng tôi để nhận diện thử DNA để mang hài cốt đúng về, còn hài cốt không đúng thì gửi lại, vì nếu không đúng của mình mà mang về nhà thờ thì cũng đâu có được.”
Riêng với Daniel, anh chỉ còn chờ đợi thời gian tới, quay trở về ngọn đồi tự do, nơi ba anh đang yên nghỉ, đưa hài cốt ông về Sài Gòn, “thiêu và đặt ba tôi kế hai ông bác tôi để ấm cúng hơn”.


Những kẻ sống bám vào sòng bạc biên giới

"Đến biên giới mà không qua bên casino chơi vài ván bài thì chết nửa cuộc đời. Chỉ cần 500.000 đồng, tụi này sẽ đưa qua thành phố Bavet (Campuchia) vào sòng bạc chơi suốt ngày", tay xe ôm ở cửa khẩu mời chào.

Tại sòng bạc ở Prey veng, Campuchia, người đàn ông cao to, hớt đầu đinh, mặc áo thun đen ba lỗ cầm micro tuyên bố: “Ngày mai, thằng Tèo, thằng Vũ không mang gà qua đây coi như đứng ngoài. Mấy thằng khác cũng vậy, phải mang gà qua mới được”.
Nhưng sáng hôm sau, nhóm Tèo, Vũ… không đi thẳng qua cửa khẩu như mọi khi mà tìm đường vượt biên qua sông Ba Hạ (Đồng Tháp). Dân bản xứ tiếng Khơme lại quen mặt nhiều người nên chúng chỉ cần ngoắc tay là có xuồng tấp vào rước. Còn những ai không phải người địa phương cũng dễ dàng vượt biên chỉ với vài trăm ngàn thuê xe ôm.
Cánh xe ôm cửa khẩu chờ đưa đón các con bạc Việt sang Campuchia đánh bạc. Ảnh: Thiên Phước
Cánh xe ôm cửa khẩu chờ đưa đón các con bạc Việt sang Campuchia. Ảnh: Thiên Phước.
Lão nông Bảy Tân ở Tân Hộ Cơ, Tân Hồng (Đồng Tháp) chạy xe ôm trên chục năm nên rất rõ các ngõ ngách vùng biên sang Campuchia. Sau khi thỏa thuận đi về trong ngày, Bảy Tân ra giá 800.000 đồng rồi chở khách theo lối mòn gần siêu thị miễn thuế ngược lên hướng Long An. Gần 20 phút, ông Tân ghé nhà người quen gửi xe, mượn xuồng bơi qua sông. Cứ tưởng sang bên kia biên giới sẽ thuê xe ôm đi tiếp nhưng ông Bảy Tân có sẵn chiếc xe máy cà tàng đời 67 gửi nhà một Việt kiều tên Hoa, chở khách chạy ngược ra khu vực gần cửa khẩu vào sòng bạc.
Bảy Tân nói nếu bao nguyên ngày thì giá giám chút còn đi một buổi ông lấy 500.000 đồng một người. Có ngày ông "kẹp ba" chạy hai chuyến vượt biên giới sang casino Arun Bopea bỏ túi “ngọt xớt” 2 triệu đồng. Theo ông Tân, từ khi bên kia biên giới có casino, con cháu ông 4 người “ăn nên làm ra” bằng cách sống bám vào sòng bạc. Đối với những tài xế xe ôm khác cũng vậy, khi thấy người nào đi xe biển số khác tỉnh đến hỏi thăm cách qua bên kia cửa khẩu, họ liền “tiếp thị” để đưa vào casino giải trí với giá 500 ngàn đến 1 triệu đồng mỗi chuyến vượt biên.


Ảnh toàn cảnh sòng bạc ở Campuchia

Đường qua một cửa khẩu bên biên giới Campuchia đất đỏ lầy lội nhưng có nhiều sòng bạc hoành tráng thu hút người Việt qua “nướng tiền” hàng ngày.
Ngoài đường bộ, con bạc có thể đi bằng đường sông qua biên giới. Trong ảnh là sông Ba Hạ nối liền biên giới của huyện Tân Hồng (Đồng Tháp) với tỉnh Preyveng, Campuchia.
Casino Hà Tiên Vegas gần cửa khẩu Xà Xía ở Kiên Giang thu hút khá đông người Việt. Nơi đây có nhiều bàn chơi bài, có trường gà, hệ thống phòng nghỉ hiện đại được xây dựng nhiều tầng.
Casino Sunday từng xảy ra sự cố sập trần làm nhiều con bạc người Việt bị thương.
Lại có một casino mọc lên giữa đồng bên Campuchia với kiến trúc độc đáo.
Các casino vẫn tiếp tục mọc lên. Trong ảnh là lễ khai trương một sòng bạc bên tỉnh Cam Bốt, Campuchia
Bên trong một sòng bạc.
Ở phía ngoài, những chiếc xe khách mang biển số Việt Nam tiếp tục tấp vào.
Trước cửa sòng bạc, ôtô đậu kín sân.

Tại cửa khẩu Xà Xía ở Hà Tiên (Kiên Giang), cánh xe ôm cũng hoạt động tấp nập với mức giá 20.000 đồng đưa khách qua các sòng bạc bên phía Kampot của Campuchia nếu là người địa phương và có giấy chứng minh trình với nhà chức trách. Với những trường hợp không có tờ giấy nào, họ chở theo đường mòn, ngoắc xuồng đưa ngang sông đi về với giá 400.000 đồng.
Nhưng cánh xe ôm sống bám vào nghề đỏ đen nhiều nhất là ở cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh). Bên kia vùng giáp ranh là thành phố Bavet với chi chít trường gà, sòng bạc. Theo thống kê của công an địa phương, khu vực cửa khẩu Mộc Bài hiện có khoảng 150 xe ôm tham gia vào việc đưa đón người Việt sang nước bạn. Số này rất thông thạo tuyến biên giới, đường mòn hai bên cánh gà cửa khẩu nên dễ dàng vượt qua được công tác tuần tra, kiểm soát của ngành chức năng.
Tại quán nước gần cửa khẩu, khi vừa thấy khách dừng xe, một xe ôm tên Hòa liền chạy tới “tiếp thị”: "Đến biên giới mà không qua bên casino chơi vài ván bài thì chết nửa cuộc đời”. Thấy vị khách bảo quên mang theo giấy tờ, anh xe ôm trấn an: "Không sao, chỉ cần 500.000 đồng mỗi người, tụi này sẽ đưa nhóm men theo đường mòn qua huyện Chăn Thia (Svay Rieng, Campuchia) rồi vòng lại lại thành phố Bavet vào sòng bạc chơi suốt ngày". Hòa cũng cho luôn số điện thoại 0168.7129… bảo khi nào có nhu cầu quay về sẽ được anh ta cùng anh em chạy xe ôm sang đón.
Trái với cảnh người nông dân tay lắm chân bùn vùng biên giới, bên trong một sòng bạc ở Campuchia giáp biên giới Việt Nam là những màn ca hát, nhảy múa bốc lửa./.Ảnh: Thiên Phước
Trái với cảnh người nông dân tay lấm chân bùn vùng biên giới, bên trong một sòng bạc ở Campuchia giáp biên giới Việt Nam là những màn ca hát, nhảy múa bốc lửa. Ảnh: Thiên Phước.
Một nghề khác cũng kiếm bộn tiền là dụ đánh bạc để hưởng hoa hồng, cho vay tiền “thế thân”.
Theo thống kê từ cơ quan chức năng, từ khi 13 casino bên kia biên giới gần cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh hoạt động thì vùng biên này hình thành trên 70 nhóm người ở huyện Bến Cầu chuyên lôi kéo, đưa đón các con bạc Việt sang “nướng tiền”. Khi cháy túi, những kẻ cầm đầu các nhóm sẵn sàng cho con bạc vay tiền bằng cách “thế mạng” để đánh bạc tiếp. Nh

Tống Phước Hiến
Theo: Diễn Đàn
Lên đầu trang